“Gắn nhãn” KCN Việt Nam với nhà đầu tư quốc tế

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng lớn trong việc thu hút các dự án đầu tư nước ngoài vào khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT), Việt Nam cần khẳng định thương hiệu và thúc đẩy “gắn nhãn” cạnh tranh cho các KCN, KKT của mình.

Ảnh: TH.Ảnh: TH.

Điểm đến của nhiều dự án lớn

Tại Hội thảo Thúc đẩy đầu tư vào Khu công nghiệp Việt Nam diễn ra hôm nay, ngày 29/11, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Văn Trung cho biết: Qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, hệ thống các KCN, KKT ngày càng phát huy được vai trò đầu tàu trong nền kinh tế. Với 289 KCN và 15 KKT ven biển tại 59 tỉnh, thành phố, các KCN,KKT đã đóng góp hơn 80 tỷ USD kim ngạch xuất nhập khẩu hàng năm, chiếm khoảng 35% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của nền kinh tế.

Các KCN,KTT đã thu hút khoảng 70% vốn đầu tư nước ngoài của cả nước, tạo việc làm trực tiếp cho trên 2 triệu lao động. Hệ thống KCN, KTT còn góp phần hiện đại hóa hệ thống cơ sở hạ tầng, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tạo ra một môi trường đầu tư thông thoáng, phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, đồng thời góp phần củng cố an ninh, quốc phòng.

KCN, KTT là điểm đến của nhiều dự án quan trọng và có quy mô lớn như Dự án “Khu Liên hợp gang thép và cảng Sơn Dương” tại KKT Vũng Áng và “Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn” tại KKT Nghi Sơn với số vốn trên 9 tỷ USD; các dự án của tập đoàn SAMSUNG với tổng vốn đầu tư trên 5,7 tỷ USD tại KCN Yên Phong, Bắc Ninh và KCN Yên Bình, Thái Nguyên, Dự án “Nhà máy lọc dầu Vũng Rô” tại KKT Nam Phú Yên, tỉnh Phú Yên có vốn đầu tư trên 3 tỷ USD... Điều này chứng tỏ các KCN,KKT tiếp tục là lựa chọn hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư trong lĩnh vực chế biến, chế tạo.

Cho biết thêm về các KCN, KTT hiện nay, ông Vũ Đại Thắng, Vụ trưởng Vụ Quản lý các Khu kinh tế (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) chia sẻ: Đến cuối tháng 10/2013, 289 KCN đã thu hút được trên 4.700 dự án có vốn đầu tư nước ngoài FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký là 69,2 tỷ USD, chiếm hơn 80% dự án FDI vào Việt Nam trong lĩnh vực công nghiệp; và trên 5.100 dự án đầu tư trong nước với số vốn 461.000 tỷ đồng. Tính riêng 10 tháng đầu năm 2013, các KCN, KTT thu hút được 9,9 tỷ USD, chiếm 70% tổng vốn FDI vào Việt Nam. Với 15 KKT ven biển đã thu hút 36,5 tỷ USD vốn FDI và 494.000 tỷ đồng vốn đầu tư trong ước vào lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lấp đầy 40% diện tích đất công nghiệp trong KKT.

Các KCN, KKT Việt Nam có lợi thế cạnh tranh như hạ tầng “cứng” đạt tiêu chuẩn quốc tế với việc được đầu tư đồng bộ trong và ngoài hàng rào, có công trình xử lý chất thải, tiện nghi tiện ích công cộng phục vụ doanh nghiệp thứ cấp. Các KCN, KKT cũng được ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư kết cấu hạ tầng bên  ngoài hàng rào. Một số địa phương đã và đang xây dựng các KCN chuyên sâu, phân khu công nghiệp hỗ trợ như Bà Rịa - Vũng Tàu, Hải Phòng, Đồng Nai, Hà Nội... Cùng với đó, với hệ thống hạ tầng “mềm” như thực hiện cung cấp dịch vụ hành chính nhanh gọn “một cửa, tại chỗ”, hệ thống văn bản pháp quy ngày càng hoàn thiện và chi phí, ưu đãi đầu tư cạnh tranh so với nhiều nước Châu Á và Châu Úc.

Không chỉ có vậy, Chính phủ Việt Nam cũng thực sự mong muốn thu hút các nhà đầu tư vào KCN, KKT bằng việc bổ sung các ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho KCN. Cụ thể, ngoài ưu đãi theo lĩnh vực và địa bàn, các dự án đầu tư vào KCN sẽ được miễn thuế 2 năm, giảm 50% trong 4 năm tiếp theo kể từ khi có thu nhập chịu thuế trừ các KCN tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội thuận lợi. Chính phủ cũng mới bổ sung ưu đãi cao nhất cho các dự án có quy mô lớn với vốn tối thiểu 6.000 tỷ đồng, giải ngân không quá 3 năm từ khi cấp giấy chứng nhận đầu tư, tổng doanh thu tối thiểu 10.000 tỷ đồng/năm sau 3 năm từ khi có doanh thu và sử dụng trên 3.000 doanh nghiệp. Các dự án đáp ứng được các điều kiện này sẽ được hưởng các ưu đãi với mức thuế suất 10% trong 15 năm, miễn tối đa 4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm. Bên cạnh đó, cũng bổ sung một số quy định liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp chế xuất mua hàng hóa từ nội địa và ngược lại theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hải quan.

Khẳng định những ưu đãi này đã mang lại thành công cho mình, bà Somhatai Panichewa, Chủ tịch Ban Đầu tư, Tập đoàn Amata PCL, Tổng Giám đốc Điều hành Công ty TNHH Amata Việt Nam cho biết: “Chúng tôi may mắn có được quyết tâm chính trị và hỗ trợ chính sách mạnh mẽ, vững vàng của Chính phủ Việt Nam, đây là một nhân tố quan trọng góp phần mang lại thành công cho Amata Việt Nam.”

“Gắn nhãn” KCN Việt Nam với nhà đầu tư quốc tế ảnh 1
Quy hoạch chung Khu kinh tế Nghi Sơn. Ảnh: TH.

Hỗ trợ chính sách mạnh mẽ

Tuy nhiên, theo Thứ trưởng Nguyễn Văn Trung, bên cạnh những kết quả tích cực, việc phát triển các KCN, KKT còn một số hạn chế. Do chất lượng quy hoạch KCN, KTT thiếu sự liên kết lãnh thổ, do đó, việc khai thác tiềm năng, lợi thế đặc thù của từng địa phương chưa hiệu quả, điển hình là tỷ lệ lấp đầy các KCN còn thấp, thu hút đầu tư gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế toàn cầu, vấn đề bảo vệ môi trường trong các KCN, KKT chưa được quan tâm đúng mức... Điều này khiến khả năng cạnh tranh trong việc thu hút đầu tư của KCN, KKT Việt Nam còn nhiều hạn chế.

Đã và đang hoạt động tại một trong những “đối thủ cạnh tranh” của Việt Nam về thu hút đầu tư, bà Somhatai Panichewa cho biết: Trong suốt cuối những năm 80, rất nhiều nước ASEAN đã nỗ lực thu hút nguồn vốn đầu tư FDI và đồng thời giải quyết các vấn đề trong nước. Về việc phát triển vùng công nghiệp vào những năm 80, Thái Lan là quốc gia bắt đầu là đích FDI phổ biến, tương đối “vững chắc” vào thời điểm đó. Cơ quan Kinh tế và Quy hoạch quốc gia của Thái Lan tập trung vào các vùng chiến lược và địa điểm của Thái Lan, đặc biệt là bờ biển phía Đông nhằm phát triển công nghiệp. Tần lớp thu nhập trung bình phát triển mạnh mẽ ở ASEAN và vì vậy, làm tăng các cơ hội sản xuất các ngành chính như ngành tự động hóa và điện tử. Thái Lan đã tập trung xây dựng vùng tự động hóa và gắn nhãn là “Detroit của phía Đông”. Vị thế chiến lược này đã cho phép Thái Lan chớp lấy làn sóng đầu tiên của các nhà sản xuất tự động hóa như Toyota, BMW. Bridgestone và Hino vào Thái Lan. Chính sách tiếp theo là hỗ trợ cho các nhà cung cấp mạnh nhóm 1 và 2 trên bảng xếp hạng và các bộ phận tự động hóa hàng đầu, phụ kiện vào Thái Lan. Vung được xây dựng và phát triển mạnh mẽ.

Với việc gắn nhãn mạnh mẽ, các khu công nghiệp Amata có một cụm sản xuất các bộ phận tự động hóa, với khoảng 30% nhà máy trong ngành tự động hóa, các nhà máy đã đón góp khoảng gần 10% GDP Thái Lan hàng năm. Việt Nam cần học hỏi Thái Lan trong việc thúc đẩy vị thể và gắn nhãn chiến lực cho các thị trường quốc tế. Amata nhìn thấy giá trị chiến lược của Việt Nam ở ASEAN và dân số tầng lớp trung bình đang phát triển của Việt Nam. Chúng tôi sẽ tiếp tục hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam để thúc đẩy và gắn nhãn cho Việt Nam với các nhà đầu tư quốc tế.” – Tổng Giám đốc Amata Việt Nam khẳng định.

Định hướng thu hút và quản lý các dự án đầu tư vào KCN, KKT trong thời gian tới, Thứ trưởng Nguyễn Văn Trung cho rằng: Việc đầu tư là cần đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư với định hướng thu hút có chọn lọc các dự án có công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường, giá trị gia tưng cao, các lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, đặc biệt là các ngành công nghiệp có tính liên kết cao...thay vì thu hút đầu tư bằng mọi giá như thời gian trước. Một vấn đề không thể không quan tâm là tiếp tục tạo lập môi trường đầu tư sản xuất kinh doanh thông thoáng, tạo điều kiện thuận lợi và củng cố niềm tin cho doanh nghiệp, nhà đầu tư yên tâm đầu tư, sản xuất kinh doanh; đẩy mạnh giám sát việc cháp hành quy định của pháp luật về đàu tư, doanh nghiệp, môi trường đảm bảo các dự án đàu tư hoạt động bền vững, hiệu quả. Cùng với đó, tiếp tục quan tâm đầu tư xây dựng nhà ở và các tiện nghi, tiện ích công cộng cần thiết cho người lao động, triển khai chương trình, kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực phục vụ nhu cầu của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh.

Cụ thể hơn, ông Vũ Đại Thắng cho biết: Theo quy hoạch Phát triển KCN đến năm 20202 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, từ nay đến năm 2020, số KCN quy hoạch thành lập mới là 212 KCN với tổng diện tích gần 60.000 ha. Dự kiến tổng diện tích đất KCN sẽ đạt 80.000-90.000 ha vào năm 2015 và đạt 120.000-130.000 ha vào năm 2020. Mục tiêu đến năm 2015 và năm 2020, tỷ lệ đóng góp của các KCN vào tổng giá trị sản xuất công nghiệp sẽ lần lượt à 40% và 60%; tỷ lệ xuất khẩu hàng công nghiệp của các KCN sẽ chiếm 40% giá trị xuất khẩu toàn quốc (năm 2015) và cao hơn các giai đoan tiếp theo. Chính vì thế, thời gian tới, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ tiếp tục rà soát việc thực hiện quy hoạch các KCN, đưa ra khỏi Quy hoạch các KCN hoạt động không hiệu quả, không còn phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, đảm bảo hiệu quả sử dụng đất.

Cam kết tiếp tục hỗ trợ các nhà đầu tư, Thứ trưởng Nguyễn Văn Trung khẳng định: “Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ cố gắng tạo môi trường đầu tư thuận lợi, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính hơn nữa, tiếp tục phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành phát hiện và xử lý kịp thời các khó khăn, vướng mắc của các dự án đầu tư, đảm bảo việc xây dựng, triển khai thực hiện đung tiến độ.”

(T.Hương)