Già hóa dân số: Thách thức đối với nguồn lao động Việt Nam

Những thách thức về chính sách và xã hội do tốc độ già hóa dân số nhanh chóng ở Việt Nam là gì? Làm thế nào để giảm nhẹ tác động sự già hóa dân số và đâu sẽ là các chính sách cùng những hành động ứng phó phù hợp của người chủ sử dụng lao động, cộng đồng và hộ gia đình? Những cải cách khó khăn nhưng cũng đem lại nhiều lợi ích, đòi hỏi phải xây dựng được sự đồng thuận lâu dài của xã hội là gì? Báo cáo “Sống lâu và Thịnh vượng hơn: Già hóa dân số tại khu vực Châu Á - Thái Bình Dương được Ngân hàng Thế giới WB công bố chiều 28/3 đã giúp giải đáp những câu hỏi này.

Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

Việt Nam bắt đầu trở thành một trong những quốc gia có tốc độ già hóa nhanh nhất trên thế giới. Trong hai thập kỷ vừa qua, Việt Nam đã được hưởng “lợi tức dân số” - sự thúc đẩy tăng trưởng kinh tế được tạo ra bởi lợi thế có được từ nhóm dân số đang ở độ tuổi lao động. Lợi tức này hiện đã được sử dụng gần hết: thành phần dân số ở độ tuổi lao động đã đạt đỉnh vào năm 2013 và hiện nay đang giảm xuống. Theo các dự đoán của Liên hợp quốc (UN), con số tuyệt đối của người dân ở độ tuổi lao động sẽ bắt đầu giảm xuống nhanh chóng sau năm 2035. Quan trọng hơn nữa là Việt Nam đã đạt tới điểm ngoặt trong quy mô dân số già năm 2015. Số lượng người Việt Nam trên 65 tuổi sẽ tăng từ 6,3 triệu người hiện nay tới trên 18 triệu người vào năm 2040, chiếm tới hơn 18% số dân và biến Việt Nam từ một xã hội trẻ thành một xã hội già. Sự biến đổi dân số này mang đến những hậu quả khắc nghiệt, đòi hỏi phải có những hành động chính sách và thay đổi hành vi trong xã hội để giúp giảm nhẹ hậu quả.

Trước hết, sự giảm sút số dân ở độ tuổi lao động có nghĩa là một động lực chủ yếu cho tốc độ tăng trưởng nhanh chóng theo đầu người tại Việt Nam sẽ giảm xuống, tạo ra nhu cầu sống còn phải cải thiện chất lượng nguồn nhân lực và các nguồn tăng năng suất khác để có thể duy trì được tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ.  Thứ hai, áp lực ngày càng gia tăng của hệ thống hưu trí và y tế sẽ tạo thêm những thách thức lên nguồn tài chính quốc gia. Thứ ba, vấn đề hệ thống chăm sóc cho người tuổi cao sức yếu sẽ sớm trở thành một mối quan ngại lớn.

Tới năm 2040, tỷ lệ phụ thuộc của người cao tuổi lên người lao động - là số lượng người từ 65 tuổi trở lên trên 100 người ở độ tuổi từ 15 tới 64 - sẽ tăng lên xấp xỉ 26 (hiện nay là 10), trong khi số lượng tuyệt đối người ở độ tuổi lao động sẽ bắt đầu giảm xuống. Bốn yếu tố của tầng lớp trung lưu và già hóa dân số chủ yếu là:

Thứ nhất, mở rộng hệ thống hưu trí để bao phủ phần lớn dân số đồng thời cải cách cơ chế hiện nay.  Mở rộng phạm vi bảo hiểm sang khu vực không chính thức sẽ chỉ có thể thực hiện thông qua việc hạ thấp độ tuổi thích hợp tham gia bảo hiểm xã hội và mở rộng những trợ cấp tương ứng để khuyến khích người lao động trong khu vực không chính thức tham gia đóng góp. Để làm được điều này đòi hỏi phải có cải cách sâu sắc hơn nữa đối với cơ chế hưu trí chính thức nhằm đạt được sự bền vững về mặt tài chính, trong đó bao gồm việc tăng dần độ tuổi nghỉ hưu.

Thứ hai, định hướng lại hệ thống y tế để chăm sóc tốt hơn dân số đang già hóa. Vấn đề trọng tâm là củng cố hệ thống y tế cơ sở để quản lý được những bệnh không lây nhiễm mà người già hay mắc như tim mạch hay tiểu đường, do vậy sẽ giảm được phụ thuộc quá mức vào bệnh viện như hiện nay. Thúc đẩy lối sống lành mạnh và cải thiện y tế dự phòng cũng sẽ là vấn đề cốt lõi để có được tuổi già khỏe mạnh và đạt được hiệu quả cao hơn nữa trong những lĩnh vực như đấu thầu mua thuốc.

Thứ ba, có biện pháp để tăng lực lượng lao động, đặc biệt là những người dân lớn tuổi tại thành thị. Để bù đắp cho sự giảm sút trong cấu trúc dân số ở độ tuổi lao động, nên tăng cường sự tham gia lực lượng lao động của nữ giới và kéo dài độ tuổi lao động của người dân thành thị thông qua những cải cách về độ tuổi nghỉ hưu, các loại hình lao động và những biện pháp khác.

Thứ tư, phát triển các chính sách và tài chính công cho công tác chăm sóc lâu dài và chăm sóc người cao tuổi. Hệ thống chăm sóc người già không chính thức của Việt Nam ngày càng gặp khó khăn, cần có các chính sách và tài chính công chủ động để hỗ trợ cho gia đình, tăng cường hệ thống chăm sóc chính thức tại nhà và tại cộng đồng.

Già hóa là một thách thức đối với người dân ở tất cả các độ tuổi tại Việt Nam, đòi hỏi có sự ứng phó rộng rãi của toàn xã hội. Mặc dù gặp khó khăn như vậy, những lựa chọn chính sách nhạy bén và thay đổi hành vi sẽ có thể giúp giải quyết được thách thức của quá trình già hóa nhanh chóng và đảm bảo rằng người dân Việt Nam tiếp tục sống lâu và thịnh vượng hơn.

(T.H)