Giảm thiểu tác động môi trường của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam

Hội thảo “Giảm thiểu các tác động môi trường của đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương phối hợp với Dự án EU-MUTRAP tổ chức đã chính thức khai mạc trong sáng nay (30/3/2016).

Toàn cảnh buổi Hội thảo. Toàn cảnh buổi Hội thảo.

Hội thảo diễn ra nhằm lấy ý kiến đóng góp cho Báo cáo nghiên cứu và trao đổi về khung pháp lý của Việt Nam, cũng như tình hình thực hiện các biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường của khu vực doanh nghiệp (DN), đặc biệt là các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Tại Hội thảo, TS. Nguyễn Thị Tuệ Anh, Phó Viện trưởng, Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) cho biết, đầu tư trực tiếp nước ngoài là một thành phần kinh tế đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của đất nước. Điều này được thể hiện rất rõ trong những số liệu thống kê về xuất khẩu, tạo việc làm, chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa.

Trong thời gian tới đây, Việt Nam bắt đầu thực hiện Hiệp định thương mại tự do TPP hay Việt Nam - EU. Điều này dự báo sẽ có thêm nhiều nguồn vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

"Nhưng không phải chúng ta sẽ thu hút FDI bằng mọi giá. Việc thu hút đầu tư nước ngoài vẫn hướng tới phát triển bền vững trong tương lai, giảm thiểu tác động tới môi trường." - TS. Nguyễn Thị Tuệ Anh nhấn mạnh.

Bên cạnh chính sách khuyến khích đầu tư, Việt Nam đã đưa ra nhiều thể chế, cơ chế để bảo vệ môi trường tương đối hoàn chỉnh và phù hợp với luật pháp quốc tế. Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 có quy định liên quan đến đánh giá tác động môi trường khá phù hợp với quy định trong luật pháp của EU, cung cấp cơ chế chính cho việc đánh giá và giảm thiểu tác động môi trường từ các hoạt động đầu tư trong nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Tuy nhiên, năng lực thể chế của Việt Nam trong việc thực hiện có hiệu quả các khía cạnh pháp luật về môi trường tại Việt Nam còn nhiều hạn chế, đặc biệt là những quy định đã được giới thiệu gần đây (ví dụ như đánh giá tác động môi trường và giám sát sau đánh giá tác động môi trường). Yêu cầu trước mắt và cấp bách (đặc biệt liên quan đến Hiệp định thương mại tự do EU-Việt Nam) là định lượng và giải quyết những thiếu hụt năng lực thể chế của các tổ chức quản lý môi trường tại Việt Nam.

Trong bối cảnh đó, Dự án Hỗ trợ Chính sách Thương mại và Đầu tư của Liên minh châu Âu (EU-MUTRAP)  đã hỗ trợ Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) thực hiện hai công trình nghiên cứu về “Khung chính sách nhằm giảm thiểu tác động môi trường của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” và “Tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về giảm thiểu tác động môi trường của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam”. Các nghiên cứu tập trung vào việc xem xét khung khổ pháp luật, chính sách nhằm giảm thiểu các tác động môi trường của các doanh nghiệp và liên doanh FDI và tình hình thực hiện các quy định về pháp luật môi trường của các doanh nghiệp đó. Từ đó,  xây dựng chính sách và đưa ra những kiến nghị phù hợp trong thời gian tới nhằm hỗ trợ Việt Nam giảm thiểu tác động môi trường từ các dự án FDI, qua đó góp phần tăng cường quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU.

Trong khuôn khổ nghiên cứu, các cuộc khảo sát/điều tra được thực hiện tại tỉnh Bắc Ninh với mục đích làm rõ thực trạng, nguyên nhân và việc thực hiện các biện pháp nhằm giảm thiểu tác động môi trường của các doanh nghiệp FDI tại các địa phương.

TS. Nguyễn Mạnh Hải, Trưởng ban - Ban Chính sách dịch vụ công, CIEM là một trong các thành viên nghiên cứu "Khung chính sách nhằm giảm thiểu tác động môi trường của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam” cho biết, qua khảo sát, nhiều cán bộ địa phương nhận định, doanh nghiệp có vốn đầu tư FDI thường tuân thủ tốt hơn các DN trong nước về quy định môi trường; chủ yếu là do các DN này đến từ các nước tiên tiến có quy định cao về tiêu chuẩn môi trường. Thậm chí, có nhiều DN thuộc TNCs, có quy định tuân thủ cao do yêu cầu tư công ty mẹ. Hơn nữa các doanh nghiệp này thường có quy mô lớn hơn các DN nội.

Đồng tình với ý kiến của TS Nguyễn Mạnh Hải, tuy nhiên, TS Vũ  Xuân Nguyệt Hồng - chuyên gia tư vấn độc lập của EU-MUTRAP nhấn mạnh, vấn đề hiện nay đặt ra câu chuyện là bắt DN FDI giảm thiểu tác động tới môi trường nhưng DN Việt Nam vẫn chưa nâng cao ý thức, vẫn vô tư xả thải thì liệu sẽ có hiệu quả hay không.

"Phải chăng cần nghiên cứu sâu hơn về việc làm sao khuếch trương được sự lan tỏa của DN FDI trong việc thực thi tốt các quy định môi trường của Việt Nam và làm thế nào để DN FDI trở thành mẫu hình cho DN trong nước học tập?" - TS Vũ  Xuân Nguyệt Hồng đặt ra câu hỏi .

Về khuyến nghị chính sách, nhìn chung pháp luật về môi trường của Việt Nam đã bao gồm tương đối đầy đủ các quy định nền tảng để giảm thiểu tác động về môi trường của FDI. Vấn đề nằm ở việc thực thi các quy định này trên thực tế, đặc biệt là thiếu khả năng về mặt thể chế, nhân lực thực hiện.

TS Vũ  Xuân Nguyệt Hồng cho rằng để nâng cao ý thức của các DN đối với vấn đề môi trường cần sự hợp lực của cả ba công cụ: pháp luật, khuyến khích kinh tế và giáo dục tuyên truyền. Đây là phương án đã được nhiều nước tiên tiến trên thế giới áp dụng và đạt hiệu quả.

Hội thảo cũng được nghe các tham luận "Kế hoạch hành động xanh cho doanh nghiệp trong bảo vệ môi trường và tăng trưởng xanh" của TS Nguyễn Tùng Lâm - Viện Chiến lược, Chính sách tài nguyên và môi trường; "Thực hiện chính sách môi trường của các doanh nghiệp Việt Nam" của bà Dương Thị Tơ - Giám đốc Trung tâm Môi trường và Phát triển Cộng đồng cùng những đóng góp, bình luận quý giá của các đại biểu tham dự Hội thảo. Những ý kiến đó là cơ sở để Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương tiếp tục hoàn thiện báo cáo, đề xuất các khuyến nghị về giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường từ các dự án FDI.

(T.Hằng)