Giảm thuế nhập khẩu vào năm 2018: Đe dọa sự tồn tại của ngành CN ô tô Việt Nam

Sau khi Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) được thành lập, việc giảm thuế nhập khẩu giữa các nước ASEAN từ mức 60% xuống còn 0% trong năm 2018 có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Đó là nhận định của ông Atsusuke Kawada, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại Hà Nội.

Nhập xe nguyên chiếc "lợi" hơn 

Theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, năm 2014, Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam, sau Trung Quốc, Hoa Kỳ và Hàn Quốc, là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 và là thị trường nhập khẩu lớn thứ ba sau Trung Quốc và Hàn Quốc. Những năm gần đây, Việt Nam luôn duy trì xuất siêu sang Nhật Bản. Năm 2014, kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Nhật Bản đạt 24,7 tỷ USD, tăng 9,4% so với năm trước, trong đó Việt Nam xuất siêu đạt 1,8 tỷ USD.

Trong cơ cấu các mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản, phương tiện vận tải và phục tùng, máy móc thiết bị có sự tăng trưởng xuất khẩu năm sau cao hơn năm trước. Cụ thể như mặt hàng phương tiện vận tải và phụ tùng năm 2014 đạt 2,1 tỷ USD; mặt hàng máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 1,4 tỷ USD, lần lượt chiếm 14,2% và 9,5% trong tổng doanh thu xuất khẩu của hơn 40 mã hàng hóa xuất khẩu sang Nhật Bản.

Về đầu tư, theo thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tính đến tháng 4/2015, Nhật Bản xếp thứ hai trong tổng số 101 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư tại Việt Nam với 2.619 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đạt gần 37,59 tỷ USD. Những con số của các tổ chức thống kê của Việt Nam hay Nhật Bản đều cho thấy, bằng cách đầu tư vốn FDI, hỗ trợ vốn ODA hay đào tạo kỹ thuật, phối hợp tổ chức các sự kiện xúc tiến ngành hàng,... Nhật Bản đã và đang đóng góp vào sự phát triển của ngành CNHT Việt Nam.

Theo ông Atsusuke Kawada, Trưởng đại diện Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản (JETRO) tại Hà Nội, năm 2014, đầu tư từ Nhật Bản đạt mức kỷ lục với 517 dự án. Tuy nhiên, xét về giá trị đầu tư, đã có sự sụt giảm 60%. Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do đồng Yên Nhật vẫn tiếp tục mất giá, đồng thời làn sóng đầu tư lớn từ các doanh nghiệp Nhật Bản đã chững lại. Nhưng nếu xét về số lượng dự án đầu tư, đầu tư tổng thể vẫn đang tăng lên đều đặn, tập trung vào các doanh nghiệp sản xuất cũng như phi sản xuất vừa và nhỏ, chẳng hạn như các doanh nghiệp liên quan đến lĩnh vực dịch vụ, công nghệ thống tin.

Kết quả cuộc khả sát các công ty Nhật Bản đã đầu tư vào Việt Nam trong năm 2014 của JETRO cho thấy: khi được hỏi về "kế hoạch kinh doanh trong tương lai" của họ cho 1-2 năm tới, 70% các công ty Nhật Bản tại Việt Nam có kế hoạch mở rộng hoạt động kinh doanh.

"Hiện nay xu hướng đầu tư vào Việt Nam đa gia tăng, tuy nhiên, vẫn tồn tại nhiều vấn đề." - Ông Atsusuke nói. Trong đó, một vấn đề mà các công ty Nhật Bản tại Việt Nam đang phải đối mặt là "khó khăn trong việc tìm kiếm nguyên vật liệu trên thị trường nội địa". Tỷ lệ mua sắm vật tư, linh kiện tại Việt Nam của các công ty sản xuất Nhật Bản là 33,2%, rất thấp so với của Trung Quốc (66,2%), Thái lan (54,8%), Indonesia (43,1%) và Malaysia (40,7%). Kết quả là các công ty của Nhật Bản phải dựa vào nhập khẩu từ các nước láng giềng như Thái Lan hay Trung Quốc.

Đặc biệt trong ngành ô tô, việc giảm thuế nhập khẩu giữa các nước ASEAN trong năm 2018 có thể ảnh hưởng đến sự tồn tại của ngành công nghiệp ô tô Việt Nam. Mức thuế nhập khẩu 60% áp dụng cho xe ô tô lắp ráp tại Việt Nam sẽ được giảm xuống 0% vào năm 2018, sau khi AEC được thành lập. Hiện nay, các nhà sản xuất ô tô Nhật Bản phải đóng thuế để mua các linh kiện không có sẵn ở Việt Nam từ các nước láng giềng, rồi sau đó tiến hành lắp ráp tại Việt Nam. Trong tương lai, khi các mức thuế nhập khẩu đối với xe ô tô lắp ráp hoàn toàn là 0% thì việc nhập xe ô tô từ các nước láng giềng như Thái Lan và Indonesia sẽ mang lại lợi nhuận cao hơn so với việc sản xuất một chiếc xe lắp ráp hoàn toàn tại Việt Nam.

Theo nhận xét của một số công ty Nhật Bản: "Rất khó để mua các linh kiện ở Việt Nam. Những thứ duy nhất có thể mua được từ các công ty Việt Nam là vật liệu bổ sung". Mặt khác, cũng có ý kiến tích cực như: "Chất lượng gia công cơ khí đã được cải thiện và gần như đã đáp ứng được các yêu cầu của phía Nhật Bản".

CNHT có "lớn" kịp lộ trình?

Khó khăn hiện nay trong việc mua linh kiện ở Việt Nam là một vấn đề lớn mà các nhà sản xuất Nhật Bản tại Việt Nam phải đối mặt, và vấn đề này cần phải được giải quyết. Để Việt Nam có lợi thế hơn so với các quốc gia cạnh tranh trong lĩnh vực sản xuất - xuất khẩu, điều quan trọng là phải phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ. Các công ty Nhật Bản cũng cần phải hợp tác với các đối tác địa phương trong nỗ lực nâng cao khả năng cạnh tranh về giá cả và bảo vệ nguồn cung cấp linh kiện phụ tùng.

Thực tế cho thấy, để thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, Chính phủ Việt Nam đã xác định CNHT là nền tảng đặc biệt quan trọng trong phát triển công nghiệp, tạo sự lan tỏa và thúc đẩy các ngành công nghiệp khác phát triển. Ngày 24/02/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg về chính sách phát triển một số ngành CNHT. Ngày 26/8/2011, Thủ tướng ban hành Quyết định số 1483/QĐ-TTg về danh mục sản phẩm CNHT ưu tiên phát triển. Tuy nhiên, qua thực hiện thực tế, theo phản hồi của các doanh nghiệp sản xuất CNHT, hai quyết định trên vẫn còn một số bất cập và doanh nghiệp vẫn còn khó khăn trong việc tiếp cận được các ưu đãi của Chính phủ.

Do vậy, thực hiện Nghị quyết số 103/NQ-CP của Chính phủ về định hướng nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng và quản lý đầu tư nước ngoài trong thời gian tới, Chính phủ đã giao Bộ Công thương ban hành văn bản quy phạm pháp luật mới thay thế Quyết định số 12 và thay vào đó là xây dựng Dự thảo Nghị định Phát triển CNHT. Dự thảo được trình Thủ tướng Chính phủ tháng 4/2015 vừa qua tập trung vào các chính sách nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao công nghệ kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực cho sản xuất sản phẩm CNHT; xây dựng các Trung tâm phát triển CNHT cho ngành CNHT. Đồng thời cón có Chương trình phát triển CNHT nhằm hồ trợ doanh nghiệp nội địa về công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, quản trị sản xuất, tạo dựng thị trường..., kết nối với các tập đoàn đa quốc gia và các nhà cung ứng là doanh nghiệp FDI nhằm tìm đầu ra cho sản phẩm, từng bước tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp FDI để sản xuất các sản phẩm có yêu cầu từ trình độ thấp lên cao.

Ngoài ra, dự thảo cũng đề xuất các ưu đãi nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam cần có các chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đủ sức hấp dẫn, rõ ràng, minh bạch, ổn định phù hợp cam kết quốc tế, hướng doanh nghiệp FDI đầu tư vào lĩnh vực CNHT, đặc biệt là các Tập đoàn đa quốc gia sản xuất CNHT đã có sẵn mối liên kết với các Tập đoàn đa quốc gia lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh. Thêm vào đó là các ưu đãi cho doanh nghiệp trong nước về cơ sở hạ tầng, vốn vay, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân...

Như vậy, cơ chế chính sách cho phát triển ngành CNHT Việt Nam đã được "lên nòng", điều còn lại là chờ những chính sách đó được thực thi hiệu quả và trước mắt là "chạy đua" kịp với lộ trình cắt giảm thuế vào cuối năm nay khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN được hình thành, đặc biệt là năm 2018, khi mà thuế nhập khẩu giữa các nước ASEAN được giảm xuống còn 0%.

(T.Hương)