"Giảm xuống 85% là thành quả không hề nhỏ"

Cái khó vẫn là thói quen sử dụng phần mềm không bản quyền của người dân, nhưng tỷ lệ vi phạm giảm xuống 85% là điều đáng ghi nhận.

Ông Vũ Xuân Thành, Chánh Thanh tra Bộ VH-TT&DLÔng Vũ Xuân Thành, Chánh Thanh tra Bộ VH-TT&DL

Biên bản ghi nhớ về Tăng cường Hợp tác và Điều phối trong bảo hộ tác quyền phần mềm ở Việt Nam được Cục Bản quyền Tác giả (Bộ VH-TT&DL), Thanh tra Bộ VH-DL-TT, Liên minh phần mềm doanh nghiệp (BSA) và Hiệp hội Doanh nghiệp Phần mềm Việt Nam (VINASA) cùng ký kết tại Hà Nội (ngày 26/8 ), đánh dấu bước tiến mới trong quan hệ hợp tác giữa các cơ quan Chính phủ với Hiệp hội nghề nghiệp tại Việt Nam và quốc tế. Đồng thời, biên bản ghi nhớ này cũng tạo cơ sở khởi xướng các chương trình hành động hiệu quả hơn trong cuộc chiến chống vi phạm bản quyền phần mềm (BQPM) ở Việt Nam. Báo BĐVN đã trao đổi với ông Vũ Xuân Thành, Chánh Thanh tra Bộ VH-TT&DL về vấn đề này.

Mục đích chính việc của việc ký kết biên bản ghi nhớ này là gì thưa ông?

Luật Sở hữu trí tuệ đã có hiệu lực, các công ước quốc tế chúng ta cũng đã tham gia. Điều quan trọng nhất là khi chúng ta đã vào sân chơi thì phải thực hiện theo luật. Việc ký kết biên bản ghi nhớ đánh dấu bước tiến mới trong quan hệ hợp tác giữa các cơ quan Chính phủ với Hiệp hội nghề nghiệp tại Việt Nam và quốc tế, qua đó khẳng định rằng Việt Nam đã tham gia thực hiện nghiêm các quy định và công ước quốc tế, cùng những hiệp định mà Việt Nam đã tham gia. Đây cũng là một trong những bước tuyên truyền để cho các doanh nghiệp ngoài việc tính toán trong kinh doanh cũng cần phải có tính toán đến nguồn lực. 

Cục Bản quyền Tác giả và Thanh tra Bộ VH-TT-DL nhất trí triển khai tăng cường nhận thức về bản quyền phần mềm thông qua các chiến dịch tuyên truyền, nhất là trong giới doanh nghiệp. Việc triển khai trong thời gian tới sẽ như thế nào thưa ông?

Tới đây, Thanh tra Bộ VH-TT&DL sẽ tăng cường các đoàn thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp, đại diện của nước ngoài, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp liên doanh, cùng những doanh nghiệp trong nước. Cố gắng phấn đấu mỗi năm có một tỷ lệ giảm nhất định.

Chỉ thị số 04/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường bảo hộ quyền tác giả đối với chương trình máy tính cho các Bộ, ngành, địa phương trong quá trình triển khai đã gặp một số vướng mắc. Về mặt nhận thức, nhiều cơ sở kinh doanh máy tính và dịch vụ tin học vì chạy theo lợi nhuận, chưa tôn trọng bản quyền chương trình máy tính, người tiêu dùng có thói quen sử dụng các chương trình máy tính không có bản quyền do các cơ sở kinh doanh cài đặt khi bán máy vi tính.

Mức độ sử dụng, lưu hành, kinh doanh các loại chương trình máy tính vi phạm bản quyền còn cao. Ông nghĩ sao về điều này?

Việt Nam mới gia nhập WTO, Luật Sở hữu trí tuệ cũng mới có 2 năm nay. Nhưng việc đưa được tỷ lệ giảm từ 92% xuống còn 85% (2007) đó là điều đáng ghi nhận, và chứng tỏ chúng ta đã làm, đang làm và tích cực làm để giảm tỷ lệ vi phạm mỗi năm xuống mức thấp. Có điều tôi muốn nói tỷ lệ 85% của năm 2007 của chúng ta hoàn toàn khác với con số 30%, 40% ở nước ngoài, vì số lượng máy của chúng ta ít, về giá trị thiệt hại thật của các nhà phần mềm sẽ ít hơn ở các nước khác rất nhiều.

Người tiêu dùng vẫn thường có thói quen sử dụng các chương trình không có bản quyền, để bây giờ làm một cuộc cách mạng thì cần phải có một lộ trình. Cái quan trọng phải có sự ưu đãi, ưu tiên cho các doanh nghiệp. Doanh nghiệp kinh doanh là phải làm, rồi đến các cơ quan Chính phủ, người tiêu dùng. Cái khó trước mắt vẫn là thói quen và nhận thức tuyên truyền về pháp luật, nên vẫn phải dần dần. Nhưng có điều tôi có thể khẳng định việc giảm tỷ lệ xuống 85% đấy là một thành quả không hề nhỏ của chúng ta.

Tại buổi lễ ký kết, ông Tarun Sawney, Giám đốc điều hành BSA khu vực châu Á – TBD đã khẳng định: “Sẽ giúp đỡ, hỗ trợ các cơ quan của Việt Nam bằng cách hỗ trợ công tác đào tạo cán bộ thực thi, chia sẻ các kinh nghiệm quốc tế trong việc xây dựng và thực hiện các chính sách trong lĩnh vực bảo vệ bản quyền phần mềm”. Việc này sẽ được thực hiện ra sao và làm thế nào Việt Nam có thể thành công?

Thực ra không phải bây giờ BSA mới giúp đỡ chúng ta. Trước đây hai bên đã cùng hỗ trợ hợp tác với nhau, đặc biệt là công tác đào tạo lực lượng thanh tra của Bộ về kỹ thuật thanh tra và kiểm tra. Một vài lực lượng thanh tra của Bộ VHTT (cũ) cũng đã được BSA đào tạo, đối với Bộ VH-TT&DL cũng đã có vài lớp.

Việc cung cấp tình hình chung về tin học phần mềm của thế giới, đánh giá cho thị trường và phản biện cho những chính sách của Việt Nam về sở hữu trí tuệ cũng được BSA giúp đỡ. Tới đây hai bên sẽ trao đổi với nhau nhiều hơn, đặc biệt là vấn đề đào tạo, sẽ đào tạo cho thanh tra Bộ và một số lực lượng có chiều sâu hơn trong chuyên môn.

Còn việc thành công ở Việt Nam, theo quan điểm riêng tôi vẫn phải là chính mình. Qua công tác thanh tra, kiểm tra các doanh nghiệp vừa rồi thì hiện tượng vi phạm bản quyền của các doanh nghiệp cũng đã giảm, các doanh nghiệp hầu hết cũng đã chấp hành. Cá biệt có những doanh nghiệp có tới 400-500 máy cũng đã thực hiện nghiêm. Các doanh nghiệp đã có chuyển biến và có nhận thức, với tình hình như hiện nay thì việc giảm tỷ lệ vi phạm bản quyền phần mềm trong thời gian tới sẽ có kết quả tốt.

Khi bàn việc tăng cường nhận thức về bản quyền phần mềm thông qua các chiến dịch tuyên truyền, nhất là trong giới doanh nghiệp, ông Tarun Sawney nói Việt Nam phải thiết lập một đường dây nóng trong tương lai. Việc thiết lập và duy trì đường dây nóng nhằm giúp công chúng có thể cung cấp thông tin cho các cơ quan chức năng về các trường hợp vi phạm bản quyền phần mềm đã đạt được khá nhiều thành công ở các nước trong khu vực. Đây có phải là một mô hình cho Việt Nam học theo ?

Quan điểm này vừa rồi chúng tôi cũng đã bàn nhiều, bên phía BSA cho là nên thành lập một đường dây nóng, nhưng chúng tôi không tán thành. Bởi vì, thực ra cho đó như là một dạng tội phạm. Với tình hình thực tiễn của Việt Nam, có những chỗ vi phạm không cần tới đường dây nóng thì cũng đã biết họ vi phạm, cho nên việc thiết lập và duy trì một đường dây nóng là không cần thiết.

Tôi thấy việc nên làm và cần thiết là trao đổi cung cấp thường xuyên cho nhau về các tỷ lệ vi phạm, mức độ vi phạm là tốt hơn nhất. Đối với thanh tra, chúng tôi rõ ràng muốn biết là cụ thể các doanh nghiệp nào vi phạm. Nói cho cùng bản quyền phần mềm và sở hữu trí tuệ, cũng như bản quyền, điều chỉnh theo luật dân sự, nếu anh bị xâm phạm, mất mát thì anh phải trình báo với nhà chức trách.

Bản ghi nhớ còn đề ra mục tiêu tăng cường kiểm tra các cá nhân, tổ chức vi phạm bản quyền phần mềm cùng với việc áp dụng các chế tài mới nghiêm khắc hơn do pháp luật quy định đối với việc vi phạm các quyền sở hữu trí tuệ. Như vậy đã đủ sức răn đe?

Theo tôi như thế là được, thực ra thanh tra Bộ cũng đã có chủ trương tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra. Còn việc chế tài, hiện nay pháp luật xử lý vi phạm hành chính đã có hiệu lực từ ngày 1/8/2008 theo luật sửa đổi thì trong đó đã tăng thẩm quyền xử phạt của các cơ quan như thanh tra chuyên ngành, hải quan… Đặc biệt hơn là Bộ VH-TT&DL đã trình một nghị định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quyền tác giả. Nghị định này cụ thể hơn, đưa nhiều hành vi vào hơn và mức xử phạt cao nhất là 500 triệu đồng. Nhưng trong vấn đề xử phạt hành chính tiền chỉ là một vấn đề, còn vấn đề nữa là anh phải khắc phục cái hậu quả đó.

Xin cảm ơn ông!

(Theo ICTnews)