Hỗ trợ tín dụng cho CNHT: Cơ hội thay đổi bộ mặt ngành công nghiệp Việt Nam

Phát triển công nghiệp hỗ trợ (CNHT) là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Chính phủ và được kỳ vọng sẽ làm thay đổi bộ mặt của ngành công nghiệp Việt Nam trong những năm tới. Tuy nhiên, thiếu vốn và quy hoạch cũng là một trong những nguyên nhân khiến ngành CNHT Việt Nam hiện chưa được như kỳ vọng.

Nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho DNVVN hoạt động trong ngành CNHT.Nâng cao khả năng tiếp cận vốn cho DNVVN hoạt động trong ngành CNHT.

Việt Nam đang mất dần lợi thế riêng

Tại Hội thảo “Cơ hội tài trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa công nghiệp hỗ trợ của ngành Ngân hàng”, ông Kyoshiro Ichikawa, Trưởng nhóm Công tác 4-1, Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản cho biết: xã hội Nhật Bản đang bị lão hóa, cùng với đó là chi phí lao động cao, đã khiến DNVVN hoạt động trong lĩnh vực CNHT phải đầu tư ra nước ngoài và Việt Nam cũng là một trong các điểm đến đó. Tuy nhiên, so với các thị trường khác như Thái Lan, Malaysia, Indonesia… thì khả năng đáp ứng linh phụ kiện cho các ngành công nghiệp ô tô, xe máy, chưa tính đến công nghệ cao của Việt Nam còn rất hạn chế. Theo thống kê, các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực CNHT ở Thái Lan đã đáp ứng được 56% các linh kiện cho ngành công nghiệp ô tô nước này; ở Malaysia, tỷ lệ nội địa hóa của ngành công nghiệp thiết bị điện và điện tử là 45%. Còn tại Indonesia, 43% các linh kiện phục vụ cho ngành ô tô, xe máy đã được nội địa hóa. Nhìn vào tỷ lệ này ở Việt Nam chỉ đạt trung bình 22,4%, trong đó, ngành công nghiệp xe máy phát triển nhất đã đạt 40-75% linh kiện được nội địa hóa; máy móc văn phòng đạt 30-40%; kém nhất là ô tô với tỷ lệ nội địa hóa chỉ đạt 5-10%.

Khảo sát với DN lắp ráp ô tô tại Việt Nam như Toyota cho thấy, DN này đã chuyển đổi sang sử dụng 40% linh phụ kiện được cung cấp tại Việt Nam và đang nỗ lực tăng tỷ lệ nội địa hóa cho sản phẩm của mình. Còn với nhóm ngành công nghệ cao, Samsung cũng đã và đang mở rộng nhà máy sản xuất điện thoại thông minh với số lượng lớn để phục vụ cho xuất khẩu, tuy nhiên, việc thiếu linh phụ kiện nội địa đã khiến DN này phải nhập linh kiện nước ngoài để lắp ráp trong nước.

Trong khi đó, theo đánh giá của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đến thời điểm hiện tại, môi trường đầu tư, giá nhân công, mặt bằng rẻ… đã không còn là lợi thế của riêng Việt Nam trong thu hút đầu tư nữa. Các nhà đầu tư đã chuyển hướng nhắm đến những thị trường có thể đáp ứng tốt nhất cho việc sản xuất các sản phẩm của họ, trong đó có các sản phẩm cung cấp từ ngành CNHT.

Nâng cao khả năng tiếp cận vốn

Trong khi Việt Nam đang mất dần lợi thế riêng, thì việc hỗ trợ các DNVVN hoạt động trong ngành CNHT phát triển thông qua việc nâng cao khả năng tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng của ngân hàng là vô cùng cần thiết trong bối cảnh hiện nay.

"Chính phủ cần thể hiện rõ quan điểm về việc hỗ trợ tài chính, cũng như bảo lãnh để tận dụng nguồn tín dụng cho phát triển ngành CNHT, đặc biệt là với các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực này. Chúng tôi đánh giá rất cao những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc ban hành một loạt các chính sách ưu đãi cho ngành CNHTT, trong đó phải kể đến Thông tư số 96/2011/TT-BTC của Bộ Tài chính, Hướng dẫn thực hiện chính sách tài chính quy định tại Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg ngày 24/2/2011 về chính sách phát triển một số ngành công nghiệp hỗ trợ" - ông Kyoshiro Ichikawa cho biết.

Riêng với ngành Ngân hàng, tiếp theo sự thành công của Dự án Tài trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) giai đoạn I và giai đoạn II, nhận thấy nhu cầu về vốn và tầm quan trọng của các DNVVN đối với sự phát triển của nền kinh tế, Chính phủ Việt Nam và JICA đã ký Hiệp định vay cho Dự án giai đoạn III (SMEFP III). Tổng trị giá khoản vay là 17,4 tỷ Yên với mục tiêu chính là cung cấp vốn trung và dài hạn thông qua các Định chế tài chính được lựa chọn tham gia dự án cho các DNVVN, đặc biệt là các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực CNHT tại Việt Nam.

Theo ông Đào Văn Hà, Giám đốc Ban Quản lý các Dự án Tín dụng Quốc tế ODA - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, việc triển khai dự án đến nay đã đạt được nhiều kết quả tích cực, đáng ghi nhận và được các nhà tài trợ đánh giá cao. Dự án SMEFP III bắt đầu được giải ngân từ tháng 4/2010 với tổng số vốn gần 3.600 tỷ đồng. Năm 2012, doanh số giải ngân của dự án đạt hơn 4.581 tỷ đồng, thu nợ hơn 100 tỷ đồng, dư nợ hiện tại gần 3.000 tỷ đồng. So sánh với Dự án giai đoạn I và II, bên cạnh mục tiêu hỗ trợ phát triển các DNVVN nói chung thì mục tiêu của giai đoạn III đã được mở rộng thêm, hướng tới hỗ trợ các DNVVN ngành CNHT thông qua việc tiếp cận các nguồn vốn vay của dự án.

Theo đại diện NHNN, cơ hội kinh doanh tiềm năng của các ngân hàng tham gia dự án từ sự phát triển của ngành CNHT là rất lớn, tuy nhiên, hiện các ngân hàng cũng đang phải đối mặt với khó khăn trong việc tài trợ cho vay với các DNVVN ngành CNHT. Hiện nay, về phía ngân hàng đang phải tìm khách hàng để cho vay nhưng với trường hợp khách hàng không được vay, không tiếp cận được nguồn vốn của NH thường do không đủ điều kiện như không chứng minh được mục đích kinh doanh, mục đích sử dụng vốn, kế hoạch giải ngân, kế hoạch trả nợ. Một thực tế nữa được coi là nguyên nhân chính - cầu trong nước nói riêng và thế giới nói chung giảm đã khiến các DN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, đặc biệt là ngành CNHT thu hẹp sản xuất để bảo toàn vốn. Điều này phần nào đã khiến DN phải đắn đo nhiều trước quyết định đi vay.

Thêm nữa, với các điều kiện “ngặt nghèo” đối với ngành công nghệ cao như hiện nay, việc tìm được doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu này để ngân hàng cho vay cũng là một nút thắt. Về vấn đề này, ông Kyoshiro Ichikawa khuyến nghị Chính phủ Việt Nam cần làm rõ khái niệm CNHT, công nghệ trong CNHT, định nghĩa cũng như phải có cơ chế thẩm định cụ thể về ngành công nghệ cao. Đặc biệt, với DNVVN còn hạn chế trong khả năng tiếp cận nguồn thông tin thì cần hình thành cơ sở dữ liệu để phục vụ cho các đối tượng này. Đây cũng là cơ sở cho các tổ chức tín dụng trong quá trình đánh giá hồ sơ tín dụng của doanh nghiệp...

(T.Hương)