Hoàn thiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2018 - 2020

(eFinance Online) - Bộ Tài chính đang xin ý kiến về dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2018 - 2020.
Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

Cần thiết ban hành 

Theo Bộ Tài chính, việc ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp là nhằm triển khai chính sách bảo hiểm nông nghiệp theo Nghị định số 58/2018/NĐ-CP ngày 18/4/2018 của Chính phủ về bảo hiểm nông nghiệp.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 22 Nghị định số 58/2018/NĐ-CP, Thủ tướng Chính phủ căn cứ vào quy định tại Điều 18, Điều 19, Điều 20 và Khoản 1 Điều 21 của Nghị định số 58/2018/NĐ-CP và khả năng cân đối ngân sách trong từng thời kỳ ban hành Quyết định cụ thể về đối tượng tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ; loại cây trồng, vật nuôi, nuôi trồng thủy sản được hỗ trợ; loại rủi ro được bảo hiểm được hỗ trợ; mức hỗ trợ; thời gian thực hiện hỗ trợ; địa bàn được hỗ trợ; mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương để thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp. Do đó, việc Bộ Tài chính xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định về thực hiện hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp là cần thiết và có cơ sở, góp phần thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn.

Việc ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp tạo điều kiện phát triển bảo hiểm nông nghiệp nhằm hỗ trợ sản xuất nông nghiệp để khôi phục sản xuất vùng bị thiệt hại do thiên tai, dịch bệnh, góp phần thực hiện nhiệm vụ được Quốc hội giao cho Chính phủ tại Nghị quyết số 32/2016/QH14 ngày 23/11/2016 về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp.

Bên cạnh đó, chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp được thực hiện phù hợp với khả năng cân đối ngân sách nhà nước trong từng thời kỳ, thông qua việc hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp cho một số tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp, đối tượng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm và trong phạm vi địa bàn nhất định nhằm thực hiện chính sách an sinh xã hội và thực hiện các chương trình mục tiêu phát triển sản xuất nông nghiệp của Chính phủ.

Vì vậy, việc ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2018-2020 là cần thiết và cấp bách.

Bảo đảm phù hợp cân đối của ngân sách nhà nước

Dự thảo Quyết định gồm 3 Chương, 9 Điều, trong đó: Chương I quy định chung gồm 2 Điều (Điều 1, Điều 2); Chương II quy định chính sách hỗ trợ bảo hiểm nông nghiệp giai đoạn 2018-2020 gồm Quy định cụ thể gồm 6 Điều (Điều 3 đến Điều 8); Chương III quy định điều khoản thi hành gồm 1 Điều (Điều 9).

Trên cơ sở cân đối ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quy định về đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ tại dự thảo Quyết định gồm: Cây lúa; Trâu, bò và Tôm sú, tôm thẻ chân trắng.

Về mức hỗ trợ, Dự thảo nêu rõ, trong giai đoạn đầu, để khuyến khích tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp tham gia và làm quen với loại hình bảo hiểm nông nghiệp, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quy định tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp được hỗ trợ và mức hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp tối đa theo quy định tại Điều 19 Nghị định số 58/2018/NĐ-CP.

Theo đó, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc diện hộ nghèo (hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập và hộ nghèo theo tiêu chí đa chiều), hộ cận nghèo: Hỗ trợ 90% phí bảo hiểm nông nghiệp. Cá nhân sản xuất nông nghiệp không thuộc diện hộ nghèo (hộ nghèo theo tiêu chí thu nhập và hộ nghèo theo tiêu chí đa chiều), hộ cận nghèo: Hỗ trợ 20% phí bảo hiểm nông nghiệp. Tổ chức sản xuất nông nghiệp theo mô hình sản xuất hợp tác, liên kết, tập trung, quy mô lớn có ứng dụng khoa học công nghệ và các quy trình sản xuất tiên tiến vào sản xuất, hướng tới nền nông nghiệp sạch, công nghệ cao, thân thiện với môi trường: Hỗ trợ 20% phí bảo hiểm nông nghiệp.

Về rủi ro được bảo hiểm hỗ trợ, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ, trên cơ sở đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ tại dự thảo Quyết định, rủi ro được bảo hiểm được hỗ trợ như sau:

Đối với cây lúa, trâu, bò: Hỗ trợ cho các rủi ro được bảo hiểm bao gồm:

Thiên tai quy định tại Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 58/2018/NĐ-CP: Bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần.

Trong trường hợp dịch bệnh, đối với cây lúa bao gồm bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá, lùn sọc đen, đạo ôn, bạc lá; dịch rầy nâu, sâu đục thân; đối với trâu, bò bao gồm bệnh lở mồm long móng, nhiệt thán.

- Đối với tôm sú, tôm thẻ chân trắng, hỗ trợ cho các rủi ro thiên tai quy định tại Khoản 1 Điều 20 Nghị định số 58/2018/NĐ-CP: Bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét, mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại, mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần. Tuy nhiên, không hỗ trợ cho các rủi ro dịch bệnh. Lý giải vấn đề này, Dự thảo nêu rõ, kết quả thí điểm bảo hiểm nông nghiệp theo Quyết định số 315/QĐ-TTg cho thấy bảo hiểm thủy sản gặp rất nhiều khó khăn do bệnh dịch xảy ra nhiều, rủi ro lớn, không kiểm soát được rủi ro, quy trình sản xuất, yêu cầu kỹ thuật phức tạp, khó thu xếp tái bảo hiểm. Kết quả nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, bảo hiểm nuôi trồng thủy sản không được triển khai do rủi ro phức tạp, tỷ lệ bồi thường cao. Trường hợp triển khai, chủ yếu thực hiện bảo hiểm đối với rủi ro thiên tai.

Trên cơ sở cân đối ngân sách nhà nước, Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ thực hiện hỗ trợ cho các địa bàn. Theo đó, hỗ trợ đối tượng cây lúa, tại 07 tỉnh gồm: Nam Định, Thái Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Thuận, An Giang, Đồng Tháp. Hỗ trợ trâu, bò, tại 08 tỉnh gồm Hà Nội, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Đồng Nai, Hà Giang, Bình Dương. Hỗ trợ đối tượng Tôm sú, tôm thẻ chân trắng, tại 5 tỉnh gồm Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Trà Vinh, Bến Tre.

Trên cơ sở đối tượng bảo hiểm được hỗ trợ, mức hỗ trợ, rủi ro được bảo hiểm được hỗ trợ, địa bàn được hỗ trợ như đề xuất của Bộ Tài chính và dự tính nhu cầu tham gia bảo hiểm nông nghiệp của các tổ chức, cá nhân sản xuất nông nghiệp thuộc đối tượng được hỗ trợ, căn cứ vào kết quả giai đoạn thí điểm bảo hiểm nông nghiệp, Bộ Tài chính ước tính kinh phí hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp hàng năm của ngân sách nhà nước: khoảng 665 tỷ đồng/năm (trong đó kinh phí hỗ trợ bảo hiểm cây lúa khoảng 168 tỷ đồng/năm; kinh phí hỗ trợ bảo hiểm trâu, bò khoảng 176 tỷ đồng/năm; kinh phí hỗ trợ bảo hiểm tôm sú, tôm thẻ chân trắng khoảng 321 tỷ đồng/năm) bao gồm: kinh phí hỗ trợ của ngân sách trung ương khoảng 639 tỷ đồng/năm, ngân sách địa phương khoảng 26 tỷ đồng/năm.

Dự thảo nêu rõ, dự toán ngân sách nhà nước năm 2018 đã được Quốc hội thông qua chưa bố trí khoản chi hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp. Trường hợp Thủ tướng Chính phủ cho phép thực hiện hỗ trợ phí bảo hiểm nông nghiệp bắt đầu từ ngày 01/10/2018 (quy định tại Khoản 5 Điều 1 dự thảo Quyết định), Bộ Tài chính sẽ tổng hợp nhu cầu kinh phí của các địa phương xác định mức hỗ trợ từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định.

(T.H)