Hợp tác Việt - Nhật: Động lực cho sản xuất công nghiệp Việt Nam

Tỷ lệ nội địa hóa của các nhà sản xuất Nhật Bản tại Việt Nam chỉ đạt gần 29%, thấp hơn nhiều so với các nước Châu Á khác. Chính vì thế, Việt Nam cần tái cấu trúc, cũng như củng cố Chiến lược Công nghiệp hóa của mình.

Ảnh: TH.Ảnh: TH.

Đây là ý kiến của GS. Kenichi Ohno, Giám đốc VDF/GRIPS tại Hội thảo “Hợp tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản nhằm xây dựng năng lực công nghiệp Việt Nam” ngày 14/3, tại Hà Nội.

Thực tế, hợp tác Việt Nam - Nhật Bản đã được thực hiện và tăng cường trong nhiều lĩnh vực quan trọng của ngành công nghiệp như công nghiệp phụ trợ (CNHT). Tuy nhiên, theo báo cáo của Diễn đàn Phát triển Việt Nam - VDF, các nhà sản xuất Nhật Bản cho rằng CNHT Việt Nam còn chậm phát triển. Tỷ lệ nội địa hóa các nhà sản xuất Nhật Bản tại Việt Nam mới chỉ đạt 22,6% vào năm 2003, trong khi đó, ở Malaysia và Thái Lan, tỷ lệ này là 45% hoặc cao hơn. Tỷ lệ nội địa hóa của các công ty Nhật Bản tại Việt Nam đến năm 2012 chỉ là 28,7%, thấp hơn nhiều so với các nước Châu Á khác, chẳng hạn như tỷ lệ nội địa hóa của các công ty Nhật tại Trung Quốc là 59,7%, tại Thái Lan là 53%, tại Ấn Độ là Indonesia là 41% và, Malaysia là 39,3%...Còn theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM), khi thực hiện cuộc khảo sát hơn 80 doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, có tới 32 doanh nghiệp cho rằng việc cung ứng nguyên vật liệu và các hoạt động kinh tế hỗ trợ của Việt Nam còn kém.

Theo GS. Kenichi Ohno, thách thức đối với ngành công nghiệp Việt Nam bao gồm sức ép cạnh tranh từ hội nhập quốc tế, biến động kinh tế vĩ mô, hạn chế trong xây dựng chính sách dài hạn về kỹ năng, công nghệ và kiến thức. Do đó, chiến lược công nghiệp của Việt Nam cần được tái cơ cấu và cải thiện. Hiện việc xây dựng chính sách công nghiệp của Việt Nam hiện nay đang thiếu sự phân định mức độ trọng điểm và ưu tiên trong khi nguồn ngân sách và nhân lực lại có hạn. Do đó, trọng tâm chính sách của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay cần được tập trung vào: Chuyển giao công nghệ từ các hoạt động đầu tư trực tiếp FDI; Tăng cường năng lực cho các doanh nghiệp và nhân lực của ngành công nghiệp; Đầu tư phát triển lĩnh vực hậu cần như vận chuyển, bến bãi, cảng biển cho ngành công nghiệp; Xây dựng các ngành công nghiệp mới từ các kinh nghiệm của các quốc gia trong khu vực.

Thêm vào đó, các quy trình và cơ chế chính sách của Việt Nam cần hiệu quả hơn. Việt Nam xây dựng nhiều kế hoạch tổng thể nhưng lại khó triển khai. Để hiện thực hóa các kế hoạch tổng thể này, các hướng dẫn cụ thể cần được ban hành với nội dung chú trọng đến chất lượng thay vì khối lượng hay tốc độ. Dự toán kinh phí cho từng kế hoạch tổng thể cần được rà soát định kỳ và đảm bảo cho hoạt động ở các cấp. Dự toán kinh phí cho từng kế hoạch tổng thể cần được rà soát định kỳ và đảm bảo cho hoạt động ở các cấp. Kinh phí cần được phân bổ một cách ổn định và các nhóm thực hiện cần được chủ động trong việc sử dụng dựa trên các tiêu chí rõ ràng, thay vì phân bổ một nguồn ngân sách dự tính cố định hàng năm. - GS. Ohno khuyến cáo.

Một giải pháp nữa được PGS.TS Vũ Trí Dũng, ĐH Kinh tế Quốc dân đưa ra là nên phát triển mạnh các cụm liên kết ngành (CLKN) bởi sự phát triển CLKN là điều kiện, môi trường cho sự phát triển của CNHT. Thực tế cũng cho thấy, sự lớn mạnh của một CLKN thường kéo theo sự gia tăng và phát triển của các doanh nghiệp trong ngành CNHT, các DNNVV hoạt động trong ngành CNHT cũng sẽ có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn, thị trường và dây chuyền chông nghệ hiện đại. Mặt khác, sự phát triển CNHT sẽ tạo điều kiện cho các CLKN phát triển có hiệu quả và nâng cao dược sức cạnh tranh của các doanh nghiệp tham gia cụm ngành đó bởi quá trình phát triển CLKN cũng phải dựa vào sự phát triển của nhóm ngành CNHT. Chính CLKN giúp doanh nghiệp đạt được mục đích cuối cùng là có được lợi ích cốt lõi về cạnh tranh tạo ra nhờ quy mô tập trung, dân cư và đô thị phát triển.

Muốn vậy, cần ban hành chính sách trong phát triển cụm ngành và xây dựng khung pháp lý để phát triển mạng lưới các CLKN hữu hiệu ở Việt Nam, từ đó, mới thúc đẩy gắn kết chúng với sự phát triển của khu công nghiệp, cụm công nghiệp và CNHT để Việt Nam có thể tham gia thành công vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Mặc dù là đối tác quan trọng nhất của Việt Nam nhưng hiện Nhật Bản mới chỉ đầu tư trực tiếp và hỗ trợ phát triển chính thức đối với các dự án công nghiệp cụ thể với Việt Nam, còn để hình thành lên các CLKN lại tùy thuộc vào năng lực hoạch định chính sách, năng lực sản xuất công nghiệp từ phía Chính phủ Việt Nam. Có thể nói, hợp tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản sẽ là nhân tố quan trọng trong việc xây dựng năng lực sản xuất công nghiệp cho Việt Nam trong thời gian tới.

(T.Hương)