Không thể "tự lớn": DNNVV cần được tháo gỡ khó khăn tín dụng

Cộng đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) là một trong bốn động lực của nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, thực tế trong 3-4 năm nay cho thấy, DNNVV đông nhưng không mạnh, quy mô nhỏ hóa và vốn bình quân giảm sút từ từ 2011 đến nay.

Ảnh: TH.Ảnh: TH.
DNNVV đông nhưng không mạnh
 
Tại Hội thảo “Nâng cao khả năng tiếp cận vốn của các DNNVV trong bối cảnh Việt Nam hội nhập Cộng đồng KT ASEAN 2015” tổ chức hôm nay, ngày 18/11, TS. Phạm Ngọc Long, Viện trưởng, Ủy viên Ban Chấp hành Hiệp hội DNNVV Việt Nam cho biết, cộng đồng DNNVV là một  trong bốn động lực của nền kinh tế Việt Nam, chiếm 97,5% tổng số DN đang hoạt động thực tế, với tổng số vốn đăng ký khoảng 121 tỷ USD chiếm 30% tổng số vốn đăng ký của các DN. Tuy nhiên, thực tế trong 3-4 năm nay cho thấy, DNNVV đông nhưng không mạnh, quy mô nhỏ hóa và vốn bình quân giảm sút từ từ 2011 đến nay.
 
Mặc dù quy mô vốn hạn chế từ 2005 - 2012 so với mức tăng 3,75 lần của DNNN và 2 lần của DN FDI thì DNNVV chỉ là 1,13 lần. DN tư nhân nói chung và DNNVV nói riêng không thể tự lớn. DNNVV yếu tự thân, năng lực cạnh tranh kém, môi trường kinh doanh chưa lành mạnh, bình đẳng... nếu không được ưu đãi, hậu thuẫn của nhà nước mà chỉ chờ động lực tự thân từ DNNVV thì thực sự khó khăn. Các công ty lớn của Việt Nam sử dụng 23% lao động, đóng góp 80% kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, DNNVV đóng góp kém hơn vào xuất khẩu ở mọi quốc gia.
 
Ông K. Balasingam, Tổng giám đốc Viện Nhân lực Ngân hàng Tài chính BTCI cho biết, ở Việt Nam, DNNVV đóng góp hơn 40% GDP của Việt Nam, tổng vốn đăng ký tăng 17,8% so năm 2013. Tuy nhiên, trong thời điểm hiện tại, cộng đồng DNNVV đang phải trải qua một thời gian khó khăn đầy thách thức đối với nền kinh tế và đối với cộng đồng DN. Các trở ngại về nhu cầu tiêu dùng sụt giảm trong một thời gian dài, tình trạng nhiều DN phải ngừng hoạt động và đặc biệt là khó khăn về tiếp cận nguồn vốn và dòng tiền... đã chứng minh cho mức độ khó khăn của thị trường. Hiện nay, chỉ có 30% các DNNVV tiếp cận được với nguồn vốn từ ngân hàng, 70% còn lại phải tiếp tục sử dụng nguồn vốn tự có hoặc vay từ nguồn khác với chi phí vốn rất cao.
 
Với năng lực cạnh tranh yếu kém, quy mô vốn thấp, không thể tự lớn được. Tỷ lệ tiếp cận vốn vay còn thấp, tỷ lệ nợ xấu tăng nhanh, tài sản đảm bảo vay khó khăn. Theo khảo sát của SISME, chỉ có khoảng 32,38% số DN cho biết có khả năng tiếp cận và được vay vốn thường xuyên; 35,24% phản ánh khó tiếp cận, số còn lại cho biết khong thể tiếp cận vốn. Kênh huy động vốn khác trên thị trường như phát hành cổ phiếu, trái phiếu hoặc tự huy động vốn thì phần lớn các SME thường không có đủ điều kiện và uy tín.
 
Tính đến hết tháng 6/2014, tỷ trọng dư nợ khu vực DNNVV chiếm 25%, tốc độ tăng trưởng tín dụng là 2% so đầu năm, có khoảng 24,4% số DNNVV được vay vốn tín dụng; gần 70% là vay ngắn hạn, gần 90% vay bằng nội tệ, tỷ lệ nợ xấu luôn có xu hướng tăng (trên 5%).
 
Khó tiếp cận vay vốn từ các NHTM nên bảo lãnh được coi là "bà đỡ" của DNNVV, song tỷ lệ DNNVV được bảo lãnh vay vốn từ Ngân hàng Phát triển Việt Nam vẫn thấp cả về số lượng cũng như giá trị bảo lãnh. Cho vay có bảo lãnh của VDB từ 2012 đến nay là bằng không.
 
Tái cơ cấu nợ và điều chỉnh giảm lãi vay còn chậm. Theo báo cáo của Thống đốc NHNN, mặt bằng lãi suất cho vay đã giảm tới 70% so tháng 11/2012, khi đó mức lãi suất cho vay từ 13% trở lên chỉ chiếm khoảng 16,5%... việc tiếp cận vay vốn của DNNVV chưa được tái cơ cấu khi mà phần lớn DNNVV khó có tỷ suất lợi nhuận cao trên 10% để chịu nổi mặt bằng lãi suất hiện nay, tồn kho có giảm nhưng vẫn còn cao. DN vẫn khó khăn khi tiếp cận vay mới vì phần lớn tài sản đảm bảo đã cạn kiệt, 60% tài sản đảm bảo là bất động sản nhưng thị trường bất động sản trong 2-3 năm nay liên tục sụt giảm, thậm chí là đóng băng.
 
NHTM quá thận trọng?
 
Theo ý kiến của TS. Phạm Ngọc Long, DN giải thể phá sản là điều hoàn toàn bình thường. DN cần coi tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng chấp nhận sàng lọc đau đớn, có mất đi để có sáng tạo. Tuy nhiên cũng cần có định hướng chuyển dịch cho DN chết đi có thể hồi sinh lại.
 
Thực tế, với sự lúng túng, chậm trễ tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế, cùng với nguyên nhân nội tại từ phía DNNVV đã khiến khu vực này nhìn chung đang dần yếu kém về chất lượng và thua kém về năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững. Việc chẫm trễ tháo gỡ các khó khăn chủ yếu của DNNVV về thị trường, đất đai... có tính dây chuyền làm trầm trọng hóa tình trạng của các DN.
 
Đánh giá nguyên nhân, TS Phạm Ngọc Long cho rằng, các NHTM quá thận trọng, co cụm, có phần bảo thủ và e ngại “hình sự hóa” trong hoạt động tín dụng. Hiện nay, điều kiện tín dụng mới “siết chặt” trở nên phức tạp và quá sức đối với DN. Đáng chú ý, chính sách tín dụng của hầu hết các NHTM hiện nay quá bỏ hẹp với số khách hàng “truyền thống”, khách hàng VIP nên thường xem nhẹ và “làm ngơ” DN mới khởi nghiệp, DN thuộc dạng KH&CN. Trong số 25.000 DNNVV thì thường chỉ cho vay khoảng 7.000 DNNVV.
 
Thêm nữa, mặt bằng lãi suất chung có giảm nhưng vẫn còn cao so với khả năng sinh lời của DN. Trước mắt, lãi suất rất khó giảm, vì nợ xấu và trích lập dự phòng cao của các NHTM vẫn còn quá cao. Nói đi cũng phải nói lại, hiện nay có rất nhiều cơ chế chính sách để hỗ trợ DNNVV nhưng cơ chế thì “trên trời” còn dân lại ở dưới mặt đất. Nhiều năm nay, Việt Nam mải mê trải thảm đón DN FDI mà quên DN trong nước và thị trường nội địa để hàng ngoại tràn ngập. Trong khi đó, cơ chế chính sách không khả thi, sự phối hợp triển khai không đồng bộ, và các cơ quan quản lý đang chữa cháy bằng cách luật hóa Luật hỗ trợ DNNVV, Luật phát triển CNHT...
 
Do đó, cần đổi mới cách thức tiếp cận phù hợp hơn trong hoạt động tín dụng và bảo lãnh tín dụng ngân hàng theo hướng tập trung trọng tâm, trọng điểm. Nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của khu vực DNNVV đặt trong quan hệ gắn bó hữu cơ giữa huy động, tập trung có hiệu quả mọi nguồn lực tài chính với chi phí hợp lý, từng bước thiết lập các định chế, thể chế tài chính đặc thù. Cần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng bền vững không tăng gánh nặng rủi ro cho các NHTM, phát huy mô hình “cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc với ngân hàng”.
 
Cụ thể, theo TS Phạm Ngọc Long, Ngân hàng Nhà nước cần phối hợp với các cơ quan liên quan tổ chức chính sách tín dụng hỗ trợ phát triển khu vực DNNVV giai đoạn tới đáp ứng yêu cầu mới về hội nhập và triển vọng phát triển tất yếu theo cách thức khác hẳn của khu vực DNNVV. Nguồn lực ít nên NHNN cần kiểm soát tất cả nguồn lực hỗ trợ DNNVV. Tiếp đó, liên Bộ Tài chính - Ngân hàng Nhà nước - Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cần có trách nhiệm giúp huy động đủ vốn điều lệ và vốn hoạt động theo lộ trình 05 năm cho quỹ hỗ trợ đầu tư DNNVV do bộ Kế hoạch Đầu tư làm đầu mối. Không nên tăng gánh nặng nợ công cho Chính phủ khi sử dụng Quỹ hỗ trợ DNNVV từ Ngân sách mà nên huy động vốn từ trong dân.
 
Đặc biệt, NHNN phải có chủ trương rõ ràng, dứt khoát về xử lý nợ xấu bằng cách chủ động thúc dẩy tăng trưởng tín dụng có hiệu quả, góp phần kích hoạt nền kinh tế thực sự khởi sắc, tăng sức mua xã hội, giải phóng hàng tồn kho, khyến khích DN đầu tư mở rộng sản xuất, tăng tổng cầu tín dụng. Đồng thời, xem xét tạm thời mở rộng đối tượng được khoanh nợ gốc, giảm lãi vay nợ cũ và mạnh dạn cho vay mới với lãi suất thấp đối với số DN lâu nay gặp khó khăn, vướng phải nợ xấu hoặc suýt chết oan do cơ chế, chính sách, do tác động quá khắc nghiệt của thị trường.
 
Muốn vậy cần có cơ chế, chính sách cụ thể khuyến khích NHTM cho DNNVV thuộc các đối tượng ưu tiên hỗ trợ phát triển của Chính phủ vay. Bên cạnh cho vay trực tiếp, cần phải có hướng dẫn cụ thể các tiêu chí xây dựng hệ thống tín nhiệm khách hàng ở từng NHTM, xây dựng lại cơ chế bảo lãnh tín dụng phù hợp cho DNNVV.
 
“Dựa vào căn bản năng lực nội sinh rất lớn của khu vực này trong bối cảnh hiện nay chúng ta hoàn toàn có đủ cơ sở để tin tưởng rằng giai đoạn tới đây sẽ là cơ hội tốt để khu vực DNNVV sớm phục hồi sản xuất, tăng trưởng kinh doanh, định vị thương hiệu, xứng đáng vai trò là động lực của nền kinh tế Việt Nam”. – TS Phạm Ngọc Long khẳng định.
 
(T.Hương)