Kinh tế Việt Nam 2014: Tiềm ẩn nguy cơ lạm phát cao

Năm 2014, quá trình tái cơ cấu nền kinh tế cùng các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho thị trường từ năm 2013 sẽ tiếp tục phát huy tác dụng... Những yếu tố đó báo hiệu sự phục hồi kinh tế Việt Nam sẽ rõ rệt hơn, song năm 2014 cũng tiềm ẩn khả năng lạm phát tăng cao.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.
 
CPI có thể đứng ở mức 7%?
 
Trong Báo cáo tình hình và triển vọng kinh tế thế giới năm 2014, Liên hợp quốc đã nhận định kinh tế toàn cầu đang cải thiện nhưng vẫn còn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro có thể khiến đà tăng trưởng đi chệch hướng. Với những dấu hiệu tích cực xuất hiện vào cuối năm 2013, LHQ dự đoán tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ đạt mức 3% trong năm 2014, 3,3% trong năm 2015, cao hơn so với mức ước tính 2,1% trong năm 2013. Việc chấm dứt thời kỳ suy thoái kéo dài của khu vực sử dụng đồng euro và sự hồi phục của kinh tế Mỹ cũng như một số nền kinh tế lớn đang nổi trong đó có Trung Quốc được đánh giá là những yếu tố chủ yếu kích thích nền kinh tế thế giới tăng trưởng.
 
Lạm phát trên toàn thế giới dự báo sẽ ở mức vừa phải trong năm 2014, một phần do sản xuất suy giảm, tỷ lệ thất nghiệp cao và việc tập trung vào các mục tiêu giảm nợ công của các nước phát triển. Các hoạt động giao dịch thương mại quốc tế dự kiến sẽ hồi phục nhẹ, lên mức 4,7%, trong khi đó, giá cả hầu hết các nguyên liệu thô vẫn ổn định mặc dù những biến động bất ngờ liên quan đến nguồn cung có thể xảy ra đẩy giá các mặt hàng này lên cao hơn.
 
Riêng với Việt Nam, tại Hội thảo Diễn biến giá cả thị trường ở Việt Nam năm 2013 và dự báo 2014, bà Nguyễn Thị Thúy Nga, Phó Cục trưởng Cục Quản lý giá (Bộ Tài chính) cho biết: Công tác quản lý, chỉ đạo điều hành giá năm 2013 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới biến động phức tạp, thương mại sụt giảm mạnh, tăng trưởng toàn cầu thấp so với dự báo đầu năm, tác động tiêu cực đến nền kinh tế đã hội nhập sâu rộng và có độ mở lớn như nền kinh tế nước ta. Sang năm 2014, dù có nhiều tín hiệu rõ rệt cho sự phục hồi kinh tế, song năm 2014 cũng tiềm ẩn khả năng lạm phát tăng cao do tác động theo độ trễ của những chính sách tháo gỡ khó khăn sản xuất kinh doanh năm 2013, tình hình thiên tai, dịch bệnh và việc tiếp tục thực hiện chủ trương điều hành giá theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước đối với một số hàng hóa, dịch vụ chiến lược, thiết yếu như điện, than, dịch vụ khám chữa bệnh, học phí... Sản xuất vẫn chưa vững chắc do cầu còn yếu nên các doanh nghiệp chưa dám đầu tư đẩy mạnh sản xuất vì sẽ làm cho hàng tồn kho tăng. Cùng với đó, tình hình nợ xấu, cân đối tài chính của các doanh nghiệp vẫn chưa giải quyết triệt để nên doanh nghiệp vẫn khó vay được vốn ngân hàng.
 
Kỳ họp thứ VI, Quốc hội khóa XIII đã thông qua mục tiêu tổng quát về phát triển kinh tế năm 2014, cụ thể tổng sản phẩm trong nước (GDP) tăng khoảng 5,8%; tốc độ tăng giá tiêu dùng (CPI) khoảng 7%. Lạm phát mục tiêu do NHNN đặt ra cũng thống nhất ở mức 7%. Theo nhận định của Viện Nghiên cứu Kinh tế - Tài chính, Học viện Tài chính, những biến động từ kinh tế thế giới cũng sẽ tác động mạnh tới diễn biến thị trường hàng hóa, giá cả ở Việt Nam, giá nhiều loại nguyên, nhiên vật liệu sẽ biến động phức tạp, do đó, giá các mặt hàng này ở thị trường Việt Nam sẽ biến động theo xu hướng đó. Dự báo chỉ số CPI tháng 12/2014 so với cùng kỳ năm 2013, sau khi chạy thử một số mô hình kinh tế lượng cho thấy, nếu Chính phủ không có những can thiệp chính sách mạnh vào thị trường thì CPI của Việt Nam tháng 12/2014 so với tháng 12/2013 sẽ ở mức 105,5 - 106. Mức tăng giá này là thấp so với mục tiêu bình ổn giá đã được Quốc hội thông qua mới đây. Một kịch bản khác là nếu Chính phủ thực hiện điều chỉnh mạnh giá một số hàng hóa nhạy cảm như điện, y tế... theo lộ trình hoặc nới lỏng sớm chính sách tiền tệ để tạo động lực cho tăng trưởng cao hơn... thì CPI của Việt Nam tháng 12/2014 so cùng kỳ sẽ còn tăng cao hơn mục tiêu đề ra. Theo TS. Nguyễn Minh Phong, với đà tăng trưởng chung của thế giới, chắc chắn chỉ số CPI năm sau sẽ cao hơn năm nay và mức thấp nhất là 6,5 - 7,5%, thậm chí lên 8%.
 
Ở một góc nhìn khác, chuyên gia kinh tế TS. Phan Thanh Hà cho rằng, với các chính sách tài khóa đã được thông qua và nhu cầu phát hành tiền để đáp ứng các yêu cầu cấp thiết khác của nền kinh tế như quốc phòng an ninh, xử lý nợ xấu của các ngân hàng thương mại... thì sức ép tăng lạm phát năm 2014 thậm chí có thể còn vượt quá mục tiêu 7%, nếu không có những giải pháp khác hơn so với các năm trước. Điều này phản ánh xu thế kinh tế vĩ mô chưa được cải thiện rõ rệt, ưu tiên ổn định kinh tế chưa được tiếp tục duy trì.
 
“Với mục tiêu năm 2014 là tăng trưởng GDP 5,8% và lạm phát 7% thì tăng trưởng vẫn tiếp tục xu hướng từ những năm 2006 là thấp hơn lạm phát. Theo kế hoạch thì năm 2014 chênh lệch này là 1,2%, gấp đôi năm 2013, tức là thực tế kinh tế chưa được cải thiện, phát triển âm. So với yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô thì lạm phát 7% là rất cao. Mục tiêu này cũng rất cao so với nhiều nước trên thế giới và khu vực. Với mức lạm phát 7% thì lãi suất không thể tiếp tục giảm đáng kể, sản xuất kinh doanh khó có điều kiện phục hồi, càng thêm kiệt quệ. Thành tích ổn định tỷ giá năm 2013 là rất tích cực nhưng nếu tiếp tục duy trì ổn định tỷ giá, kể cả nếu năm 2014 giảm giá 1-2%, nhưng lạm phát lại tăng làm cho đồng tiền lên giá tương đối so với các nước không điều chỉnh tỷ giá tương ứng” - TS. Phan Thanh Hà nhấn mạnh.
 
Như vậy, ổn định tỷ giá cần đi kèm giảm lạm phát mới không gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế. Mục tiêu lạm phát đã thông qua cho năm 2014 là 7% nhưng mục tiêu điều hành cần nhắm tới mức 5%, tiến tới năm 2015 lạm phát chỉ ngang bằng ở mức cao so với các nước trong khu vực. Điều này càng đặc biệt quan trọng do nền kinh tế hội nhập sâu rộng hơn vào năm 2015 khi Hiệp định ASEAN - Trung Quốc về cắt giảm thuế quan bắt đầu có hiệu lực.
 
Tăng trưởng cao không buộc lạm phát phải cao
 
Diễn biến giá cả ở Việt Nam trong năm 2014 phụ thuộc rất mạnh vào quan điểm và các quyết sách thực hiện lộ trình điều hành giá một số mặt hàng của nhà nước như điện, than, xăng dầu, dịch vụ y tế, giáo dục... Do đó, việc điều chỉnh giá của từng mặt hàng cụ thể cần được cân nhắc liều lượng và phân phối về không gian, thời gian một cách hợp lý để tránh tạo ra những cú sốc trên thị trường và tác động xấu tới đời sống người dân. Việc chuyển đổi này là cần thiết nhưng chuyển sang cơ chế thị trường với các mặt hàng độc quyền không có nghĩa là tăng giá sản phẩm dịch vụ. Nhà nước cần áp dụng các biện pháp kiểm soát độc quyền, độc quyền nhóm như cấp phép kinh doanh để tăng sức ép cạnh tranh, chia tách doanh nghiệp độc quyền.
 
Theo TS. Nguyễn Minh Phong, hệ lụy của các năm trước trong vấn đề quản lý giá của Việt Nam chính là ngộ nhận lớn về quan niệm của cơ quan độc quyền nhà nước khi coi giá thế giới là giá thị trường và tính giá thị trường bằng chi phí của các doanh nghiệp độc quyền. Điển hình ngay việc điều chỉnh giá điện, EVN cũng nhìn giá điện khu vực đòi tăng giá, đây chính là sự ngộ nhận suy từ lợi ích nhóm để tăng giá. Thêm nữa, việc cho doanh nghiệp độc quyền tự định giá và cho rằng đó là quy trình thị trường, trong khi thị trường lại không có cạnh trạnh chính là nghịch lý trong quản lý giá của Việt Nam. Đặc biệt, việc Ngân hàng Nhà nước chỉ “bình ổn thị trường” mà không kèm theo “bình ổn giá” và áp đặt giá sàn là đi ngược bản chất của bình ổn thị trường.
 
Ngoài các yếu tố trên, yếu tố tăng giá căn bản và quan trọng nhất có thể đẩy lạm phát tăng lên, làm tăng giá đối với hầu hết các mặt hàng trong nền kinh tế chính là yếu tố tiền tệ liên quan tới thâm hụt ngân sách. Và như vậy, giải pháp kiểm soát lạm phát một cách hiệu quả là tập trung kiểm soát thâm hụt ngân sách, quản lý luồng tiền và sử dụng tiền phát hành trái phiếu chính phủ và hạn chế phát hành tiền, kể cả gián tiếp cho chi tiêu ngân sách. Nói cách khác, kiểm soát bù đắp thâm hụt ngân sách sẽ giảm gánh nặng cho chính sách tiền tệ trong việc kiểm soát lạm phát.
 
Trong vài năm qua, bài toán quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng luôn được đặt ra: nên ưu tiên cho tăng trưởng hay lạm phát. Thực tế những năm 1996 - 2000 cho thấy, Chính phủ hoàn toàn không cần thiết phải lựa chọn một trong hai mục tiêu khi mà lạm phát những năm này chỉ dưới 4% trong khi tăng trưởng GDP đạt mức 8%, tức là tăng trưởng cao không bắt buộc phải kèm theo lạm phát cao. Ngược lại, lạm phát cao cũng chưa chắc đem lại tăng trưởng cao. Điển hình là lạm phát cao khuyến khích người dân chuyển sang nắm giữ ngoại tệ, vàng, thậm chí hàng hóa để bảo toàn giá trị tài sản của mình. Việc giữ chênh lệch lãi suất VND với ngoại tệ cao để khuyến khích người dân giữ tiền Việt thì lại càng không khuyến khích kinh doanh và kết quả là tăng trưởng giảm.
 
Ngay cả lạm phát thấp như hiện nay cũng không làm cho đời sống người dân tốt lên khi mà theo phản ánh của Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội Vũ Vinh Phú, túi tiền của người dân đang bị eo hẹp lại: “Chúng ta cứ tự hào vì CPI tăng thấp nhưng nhìn lại thì thấy hàng hóa vẫn đứng ở mức giá cao, thịt ở các chợ cóc vẫn là 95.000/kg, thậm chí thịt sạch lên tới 105.000/kg. Có thể nói, túi tiền người dân đang bị eo hẹp lại. Đầu vào thì chưa được quản lý chặt, trong khi đó, ở đầu ra, người dân đang bị móc túi. Điển hình như việc giá thành mỗi kg đường mà Hoàng Anh Gia Lai làm tại Lào chỉ 8.000 đồng, trong khi hệ thống siêu thị vẫn bán với giá 22.000 đồng. Như vậy, người tiêu dùng đang bị móc túi. Đã đến lúc nhà phân phối và sản xuất cần ngồi lại để phân chia lại lợi nhuận một cách hợp lý, hướng tới chuỗi sản xuất phân phối khép kín và một thị trường minh bạch”.
 
Theo TS.Nguyễn Đức Độ, Phó Viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính, Học viện Tài chính, tốc độ tăng trưởng GDP tiềm năng tỷ lệ nghịch với mức lạm phát mục tiêu. Do vậy, trong dài hạn, việc giữ tỷ lệ lạm phát ở mức thấp là thực sự cần thiết. Với tỷ lệ tiết kiệm/GDP hiện tại của nền kinh tế Việt Nam vào khoảng 29%, tốc độ tăng trưởng tiềm năng của nền kinh tế Việt Nam chỉ vào khoảng 5,9%. Nếu Việt Nam cố gắng đạt được tốc độ tăng trưởng GDP cao hơn thông qua tăng đầu tư, lạm phát sẽ gia tăng, đồng thời những cải thiện về tăng trưởng cũng chỉ đạt được trong ngắn hạn và không nhiều. Muốn đạt được tốc độ tăng trưởng ở mức cao hơn và bền vững hơn, chẳng hạn ở mức 6,5%, trước tiên, Việt Nam cần đưa tỷ lệ lạm phát xuống mức thấp hơn nữa, khoảng 2-3%. Tuy nhiên, quá trình này đòi hỏi nền kinh tế phải trả giá trong ngắn hạn bởi khi tốc độ tăng đầu tư giảm xuống dưới mức tăng trưởng GDP và tỷ lệ thu thu/GDP sẽ giảm theo. Vì thế, để nền kinh tế tránh được những cú sốc, tốc độ tăng đầu tư cần được giảm từ từ, chẳng hạn, duy trì ở mức khoảng 4-5% mỗi năm trong một thời gian. Khi tốc độ tăng đầu tư thấp hơn tốc độ tăng trưởng tiềm năng, tỷ lệ đầu tư/GDP sẽ giảm xuống và lạm phát cũng sẽ giảm theo, đồng thời tỷ lệ tiết kiệm/GDP và mức tăng trưởng GDP tiềm năng cũng sẽ tăng lên. Khi đạt được mức lạm phát mục tiêu đề ra này, Việt Nam có thể thực thi chính sách duy trì tốc độ tăng đầu tư ngang bằng với tốc độ tăng trưởng tiềm năng tương ứng ở mức 6,5%...
 
(T.Hương)