Kinh tế Việt Nam tiếp tục tăng trưởng dù tiến độ cải cách cơ cấu chưa đồng đều

Theo báo cáo “Điểm lại” mới công bố của của Ngân hàng Thế giới, kinh tế Việt Nam tiếp tục hồi phục với mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ước đạt 6,28% trong nửa đầu của năm 2015.

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt mức cao nhất trong 5 năm qua.

Tăng trưởng kinh tế Việt Nam đạt mức cao nhất trong 5 năm qua.

Tăng trưởng cao nhất trong 5 năm qua

Báo cáo điểm lại tình hình kinh tế của Việt Nam được công bố 2 lần/một năm cho rằng đây là mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm cao nhất của Việt Nam trong vòng 5 năm qua.

Chuyên gia kinh tế cao cấp của WB, Sebastian Eckardt cho rằng: cân đối ngân sách của Việt Nam vẫn là điều cần lưu ý, đặc biệt trong bối cảnh nợ công tăng nhanh trong những năm gần đây, và chi phí trả nợ có thể là gánh nặng ngày càng tăng cho ngân sách. Ngoài ra, mặc dù Chính phủ đã có nhưng biện pháp cải cách tích cực, trong đó có việc ban hành Nghị định số 61/2013/NĐ-CP về giám sát tài chính, đánh giá hiệu quả hoạt động và công khai, minh bạch thông tin tài chính của DN có vốn nhà nước. Tuy nhiên, theo chuyên gia WB, tiến độ cải cách cơ cấu chưa tương xứng với kỳ vọng, đặc biệt là trong việc cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và một phần trong cải cách ngân hàng. Cụ thể, tốc độ cơ cấu lại DNNN dường như đang chậm lại do khâu thực hiện chưa tuân thủ tốt khung pháp lý mới. Đến hết quý 1 mới cổ phần hóa được 29 DNNN so với mục tiêu 289 doanh nghiệp đề ra trong cả năm 2015. Việc thực hiện nghiêm túc các quy đinh pháp lý và pháp quy về quản lý và quản trị DNNN ban hành năm ngoái, và tăng tỉ lệ sở hữu của khu vực tư nhân với DNNN cổ phẩn hóa cần tiếp tục được coi là một ưu tiên chính.

Theo báo cáo, trong bối cảnh lạm phát thấp, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã dần nới lỏng chính sách tiền tệ nhằm hỗ trợ các hoạt động kinh tế, đồng thời điều chỉnh tỉ giá để đảm bảo tính cạnh tranh của nền kinh tế.

Riêng về cải cách lĩnh vực ngân hàng, Ông Sandeep Mahajan, Chuyên gia Kinh tế trưởng của WB cho biết: “Cải cải ngân hàng đã có nhiều tiến triển, đặc biệt trong lĩnh vực mua bán và sát nhập. Nhiều vụ sát nhập và mua lại các ngân hàng nhỏ được thực hiện bởi các ngân hàng thương mại có quy mô lớn. Tuy nhiên, việc thiếu một khung pháp lý đầy đủ và phù hợp cho việc xử lý nợ xấu, VAMC có vốn nhỏ và năng lực hạn chế đang tiếp tục là trở ngại cho việc xử lý nợ xấu.”

Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc quốc gia WB tại Việt Nam đánh giá việc NHNN  điều chỉnh tỷ giá hối đoái thời gian vừa qua là dấu hiệu lành mạnh, phản ánh đúng tỷ lệ lạm phát của Việt Nam so với các đối thủ cạnh tranh.  Nhưng trong dài hạn, Việt Nam cần có điều chỉnh linh hoạt hơn bám sát sự biến động của thị trường.

Trong khi đó, đà xuất khẩu suy giảm và nhập khẩu tăng nhanh đã đẩy tài khoản vãng lai vào tình trạng thâm hụt trong quý 1 của năm 2015.

Quá trình hồi phục vẫn đạt tiến độ

Đánh giá về triển vọng ngắn hạn, chuyên gia kinh tế cao cấp của WB, Sebastian Eckardt cho rằng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam nhìn chung  là tích cực. Các chỉ số dự báo tương lai cho thấy quá trình hồi phục sẽ vẫn đạt tiến độ. Theo tính toán của HSBC, chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) duy trì trên mốc 50 trong 22 tháng liên tiếp trong khi Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng giữ ở mức 140,2 trong tháng 5, cao hơn mức trung bình 135 trong dài hạn. Tăng trưởng kinh tế dự báo sẽ duy trì trong khoảng 6,0-6,2% trong năm 2015 trên cơ sở cầu trong nước sẽ tiếp đà phục hồi, tiêu dùng cá nhân gia tăng và đầu tư tiếp tục cải thiện. Mặc dù chính sách tiền tệ đã được nới lỏng song kỳ vọng lạm phát vẫn giữ ở mức thấp do giá nhiên liệu và lương thực thực phẩm toàn cầu thấp. Thâm hụt tài khóa dự báo sẽ được điều chỉnh thông qua nỗ lực cắt giảm chi tiêu để tránh gia tăng hơn nữa nợ công. Cán cân thương mại sẽ bị thu hẹp đáng kể trong năm nay do giảm đà xuất khẩu và nhập khẩu tiếp tục gia tăng để đáp ứng các hoạt động kinh tế và nhu cầu đầu tư trong nước. Tuy nhiên, lượng kiều hối ổn định sẽ góp phần duy trì tài khoản vãng lai thặng dư nhưng ở mức thấp hơn nhiều so với năm ngoái.  

Các dự báo ở kịch bản cơ sở trên sẽ chịu tác động của nhiều yếu tố rủi ro, cả trong nước và bên ngoài. Về bên ngoài, tăng trưởng kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều bất định. Sự phục hồi kinh tế thế giới có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam thông qua những mối liên kết thương mại lớn. Ngoài ra, giá gạo và các mặt hàng nông sản tiếp tục giảm có thể tác động tiêu cực tới thu nhập và tiêu dùng hộ gia đình nông thôn, theo đó gia tăng khoảng cách giữa thành thị và nông thôn. Xét trong nước, một kế hoạch củng cố tài khóa đáng tin cậy trong trung hạn cùng với những biện pháp nghiêm túc nhằm củng cố tình hình tài chính của DNNN và khu vực ngân hàng sẽ đóng vai trò quan trọng giúp giảm áp lực lên tính bền vững của nợ công và gia tăng niềm tin của khu vực tư nhân. Xét về mặt tăng trưởng, các thỏa thuận thương mại sẽ tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam thu hút thêm nhiều vốn đầu tư nước ngoài, đa dạng hóa và xúc tiến thương mại thông qua tiếp cận các thị trường lớn hơn và giàu có hơn.

Đưa ra dự báo thận trong, WB cho rằng trong tương lai, việc có đạt được tăng trưởng kinh tế cao hơn và bền vững hơn hay không tùy thuộc vào khả năng duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô và đẩy nhanh cải cách cơ cấu ở Việt Nam.

Về kinh tế vĩ mô, quá trình củng cố tài khóa dần dần, phù hợp với tăng trưởng sẽ giúp kiềm chế áp lực nợ công và rủi ro tài khóa. Nhu cầu bù đắp thâm hụt ngân sách thấp đi cũng sẽ góp phần làm giảm tình trạng trái phiếu chính phủ “lấn át” tín dụng khu vực tư nhân, từ đó các nguồn tín dụng sẽ hướng nhiều hơn vào hỗ trợ các hoạt động sản xuất kinh doanh, đặc biệt là của của khu vực tư nhân. Quá trình củng cố tài khóa phải được thực hiện thông qua việc hợp lý hóa chi ngân sách và cải thiện hiệu quả đầu tư công. Thu thập thông tin đáng tin cậy và cập nhật về nợ dự phòng (chủ yếu trong khu vực DNNN) và đánh giá rủi ro tài khóa vẫn nên được ưu tiên. Ngoài ra, dù chưa phải là một vấn đề quan ngại trong ngắn hạn song về trung hạn khi cam kết FDI giảm, vốn ưu đãi ODA ít đi và các điều kiện tài chính toàn cầu chặt chẽ hơn có thể làm phát sinh rủi ro tài trợ tài chính bên ngoài.

Báo cáo Điểm lại có một chuyên mục về thị trường lao động tại Việt Nam, trong đó mô tả chi tiết về sự dịch chuyển lớn trong bức tranh về việc làm trong vòng 25 năm qua.

Trước đây, cơ cấu việc làm tại Việt Nam chủ yếu là nông nghiệp gia đình, việc làm trong các hợp tác xã và DNNN nhưng đến nay thì đã có sự dịch chuyển việc làm sang các lĩnh vực sản xuất công nghiệp và dịch vụ, việc làm trong các doanh nghiệp gia đình ngoài nông nghiệp, doanh nghiệp tư nhân trong nước và nước ngoài. Báo cáo cũng nhận định rằng các quy định và thể chế về lao động có khả năng là một nhân tố quan trọng trong tăng trưởng tiền lương/tiền công ở khu vực tư nhân.

Báo cáo Điểm lại đưa ra những gợi ý về việc tiếp tục chuyển đổi thị trường lao động của Việt Nam, trong đó có các biện pháp chủ động nhằm tăng cường hệ thống quan hệ lao động công nghiệp, cân bằng giữa việc đảm bảo sự linh hoạt trong thị trường lao động với việc duy trì bền vững tăng trưởng về năng suất, và quản lý những rủi ro về mặt xã hội trong một nền kinh tế có định hướng thị trường rõ nét hơn.

Cụ thể hơn, báo cáo cho rằng Việt Nam còn thiếu các thể chế thích hợp để đàm phán và giải quyết tranh chấp liên quan tới lao động. Báo cáo cũng đưa ra một số gợi ý chính sách để giải quyết những điểm yếu này nhằm khuyến khích phát triển một thị trưởng lao động hiệu quả hơn.

(T.Hương)