Làm sao để sự phục hồi kinh tế không chỉ là "tăng lực" tạm thời?

Việc có có những hạn chế kéo dài đã tạo ra "động lực ngược” cản trở sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam. Câu hỏi đặt ra là làm sao để sự phục hồi năm 2014 và Quý đầu năm 2015 không chỉ là “tăng lực” tạm thời mà phải thật sự thay đổi cơ cấu, trình độ của nền kinh tế.

Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân 2015.Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân 2015.

Tại Diễn đàn Kinh tế mùa xuân 2015 đã diễn ra trong 2 ngày 21 - 22/5, tại Vinh, Nghệ An, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Nguyễn Văn Giàu cho biết: tình kinh tế vĩ mô Quý I vừa qua đã đạt được các kết quả khả quan. Trong đó, quan trọng nhất là chỉ tiêu GDP có tăng trưởng tốt, các chỉ số sản xuất như Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng tốt, trong đó có dấu ấn quan trọng của công nghiệp chế tạo tăng cao, sản xuất kinh doanh có dấu hiệu phục hồi, tăng trưởng tốt.

Tăng trưởng năm 2014 vẫn diễn ra theo kịch bản cũ “tiếp tục hồi phục, tăng trưởng quý sau cao hơn quý trước”. Điểm nhấn là tăng trưởng bất ngờ ở quý 3 (6.07%) và quý 4 (6.96%) làm cho mức tăng trưởng cả năm cao hơn hẳn so với 3 năm trở lại đây. Tuy nhiên, mức hồi phục này vẫn còn thấp, chưa vượt qua mức 6% và chưa thực sự bền vững. Trên thực tế, tốc độ tăng trưởng năm 2014 thấp hơn khá xa mức tăng trưởng bình quân của giai đoạn 1990-2010.

Có cùng quan điểm, TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam đánh giá đang có dấu hiệu phục hồi tăng trưởng kinh tế, với quá trình cải cách diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là thời gian gần đây. Bằng chứng rất rõ ràng về những dấu hiệu tích cực trong việc đẩy mạnh cổ phần hóa, cổ phần hóa gắn với trách nhiệm cá nhân, giá cổ phần hóa đảm bảo theo giá thị trường... Đây là đột phá quan trọng giải quyết những điểm nghẽn trong cải cách DNNN.

Sản xuất công nghiệp năm 2014 phục hồi đáng kể ở tất cả các nhóm ngành. Chỉ số quản trị mua hàng PMI từ tháng 9 năm 2013 đã liên tục cao hơn ngưỡng 50 điểm. Các nhà quản trị mua hàng đều nhận thấy điều kiện kinh doanh trong nước đang được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, về thực chất, nền công nghiệp nước ta là nền công nghiệp định hướng phi công nghệ. Ngân hàng Thế giới (WB) và Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) nhận định: “Năng lực KHCN ở Việt Nam còn yếu và hệ thống đổi mới sáng tạo còn non trẻ, manh mún. Điều này không có lợi cho phát triển kinh tế nói riêng và đất nước nói chung”. Mức đầu tư cho nghiên cứu ở Việt Nam quá thấp, chỉ chiếm 0.2% - 0.3% GDP. Ngoài ra, trong khi ở nhiều nước, khối doanh nghiệp tư nhân đóng góp nhiều cho đầu tư đổi mới KHCN (trên 80%), thì ở Việt Nam diễn ra một xu thế ngược khi mà đầu tư cho phát triển từ nguồn vốn Chính phủ chiếm hơn 90%, chỉ còn lại 10% từ khối doanh nghiệp tư nhân. Điều đáng nói là qua nghiên cứu, WB cho rằng hệ thống đổi mới sáng tạo ở Việt Nam theo tiêu chuẩn hiện đại chỉ mới manh nha.

Khoảng 80% - 90% công nghệ Việt Nam đang sử dụng là ngoại nhập. 76% máy móc, dây chuyền công nghệ nhập thuộc thế hệ những năm 1950-1960, 75% số thiết bị đã hết khấu hao, 50% là đồ tân trang. Tính chung các doanh nghiệp, mức độ thiết bị hiện đại chỉ có 10%, trung bình 38%, lạc hậu và rất lạc hậu 52%. Tỷ lệ sử dụng công nghệ cao chỉ 2% so với 31% của Thái Lan, 51% của Malaysia, 73% của Singapore. Các doanh nghiệp Việt Nam thờ ơ với công nghệ, ít có động lực sáng tạo; còn các công ty có vốn đầu tư nước ngoài cũng không quan tâm tới nghiên cứu phát triển vì vấn đề này được thực hiện tại công ty mẹ. Các công ty này chỉ chú trọng khai thác nguồn nhân lực và nguyên liệu rẻ của Việt Nam. Chính vì vậy, ở Việt Nam, ngành công nghiệp phụ trợ khó có thể phát triển, chủ yếu “khiêm tốn” đảm nhận công đoạn “công nghệ thấp” - gia công và lắp ráp.

Các tổ chức tài chính trong nước và quốc tế đồng loạt đưa ra nhiều dự báo lạc quan về nền kinh tế Việt Nam. Tuy nhiên, vẫn còn một số điểm cần phải lưu ý đó là tình trạng nợ đọng xây dựng từ những năm trước của các doanh nghiệp vẫn chưa có hướng giải quyết triệt để. Nhiều doanh nghiệp khó khăn trong việc tiếp cận vốn, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đặc biệt, nhập siêu cao trở lại, hết quý I nhập siêu 5 % so với kim ngạch xuất khẩu. Thị trường xuất khẩu của Việt Nam khá đa dạng, nhưng thị trường nhập khẩu còn quá tập trung. Việt Nam xuất khẩu sang nhiều thị trường như Mỹ, EU, Trung Quốc và Nhật Bản, trong khi nhập khẩu tới 29% giá trị từ riêng Trung Quốc.

"Cần nghiên cứu sâu hơn bản chất để làm sao có sự phục hồi bền vững. Việc có có những hạn chế kéo dài đã tạo ra "động lực ngược” cản trở sự phát triển. Làm sao để sự phục hồi năm 2014 và Quý đầu năm 2015 không chỉ là “tăng lực” tạm thời mà phải thật sự thay đổi cơ cấu, trình độ của nền kinh tế. Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ phải có sự dịch chuyển thật sự rõ ràng, từ đó xây dựng nền tảng tăng trưởng vững chắc… Đặc biệt, cần đẩy mạnh tái cơ cấu doanh nghiệp, cổ phần hóa DNNN theo nguyên lý thị trường, chuyển nguồn lực cho đối tượng có khả năng quản trị tốt hơn. Ưu tiên cổ phần hóa với giá thị trường và tỷ lệ “giữ nhà nước tối thiểu, giao thị trường tối đa. Cần giải quyết là ngoại lực mạnh, nội lực yếu, thật sự làm thay đổi “đẳng cấp” phát triển của Việt Nam”. - TS Trần Đình Thiên khuyến nghị.

(T.Hương)