“Lời nguyền tài nguyên mới” từ Trung Quốc

Nhiều nước có khuynh hướng xuất khẩu tài nguyên sang Trung Quốc, nguồn lực bị rút khỏi khu vực sản xuất công nghiệp, khiến đất nước mất dần mất khả năng cạnh tranh trong dài hạn và dần lệ thuộc vào việc xuất khẩu tài nguyên hoặc các sản phẩm sơ chế trung gian. Đó như một “lời nguyền tài nguyên mới”.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Đây là cảnh báo được đưa ra trong báo cáo thường niên “Kinh tế Việt Nam năm 2013” do Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách - VEPR (ĐH Quốc gia Hà Nội) thực hiện và công bố mới đây.

Theo TS. Nguyễn Đức Thành, Giám đốc kiêm Kinh tế trưởng của VEPR, tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc gần 10% liên tục trong 30 năm qua đã đưa Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới. Sự phát triển của “công xưởng của thế giới” đòi hỏi nguồn lực đầu vào khổng lồ mà chỉ riêng Trung Quốc thì không thể cung cấp được hết. Do vậy, sự phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và kinh tế Trung Quốc đã tạo ra một nhu cầu lớn trên quy mô toàn cầu về tài nguyên, nhiên liệu, hàng hóa trung gian.

Có thể nói, Trung Quốc đã làm thay đổi diện mạo địa - công nghiệp toàn cầu. Sự thay đổi này một mặt tác động đến sự phân công chuyên môn hóa toàn cầu, mặt khác đã gián tiếp làm thay đổi khuynh hướng sản xuất của nhiều nước trên thế giới, như việc khiến một số nước bị hấp dẫn bởi việc xuất khẩu tài nguyên, hàng hóa thô - sơ chế sang Trung Quốc, do đó nguồn lực bị rút khỏi khu vực sản xuất công nghiệp, khiến đất nước mất dần mất khả năng cạnh tranh trong dài hạn. Cơ chế phức tạp này kết thúc bằng việc các quốc gia giàu tài nguyên dần phân ly khỏi quỹ đạo công nghiệp hóa truyền thống, và dần lệ thuộc vào việc xuất khẩu tài nguyên hoặc các sản phẩm sơ chế trung gian. Điều này được biết đến như là vòng xoáy “giải công nghiệp hóa” trong bối cảnh mới, hay còn được gọi là “lời nguyền tài nguyên mới”. - TS. Nguyễn Đức Thành nhấn mạnh.

Sự gần gũi về địa lí, giàu tài nguyên và ở một trình độ sản xuất thấp hơn Trung Quốc có thể khiến Việt Nam đang dần bị hút vào vòng xoáy giải công nghiệp hóa. Việc tham gia vào Khu vực thương mại tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) - thông qua đó đa số hàng rào thuế quan giữa ASEAN với Trung Quốc được gỡ bỏ - có thể khiến hiệu ứng giải công nghiệp hóa trở nên rõ nét hơn. Nếu hiệu ứng này là có thực ở Việt Nam, thì cần phát hiện sớm và đưa ra những cảnh báo cho quá trình hoạch định chính sách ngành, chính sách hỗ trợ sản xuất cho các ngành thiết yếu của Việt Nam.

Thực tế, thông qua việc xem xét số liệu thương mại giữa Việt Nam với Trung Quốc, nhóm tác giả báo cáo thường niên “Kinh tế Việt Nam năm 2013” đã phát hiện tồn tại hiệu ứng giải công nghiệp hóa mà Trung Quốc tạo ra đối với Việt Nam thông qua thương mại. Cụ thể, dưới tác động của sự hình thành ACFTA, hiệu ứng này trở nên rõ nét hơn do ACFTA không có các trở ngại về xuất khẩu nông sản. Bởi lẽ, Trung Quốc và ASEAN đã loại bỏ thuế suất đối với hơn 9000 nhóm hàng. Đồng thời, quy định ROO ở mức thấp nhất trong số các FTA trên thế giới (40%). Điều này tạo ra luồng dịch chuyển hàng hóa thương mại với quy mô lớn và không trở ngại.

Nhìn chung, mô hình thương mại Việt - Trung mang đặc điểm rõ nét của quan hệ thương mại giữa hai nước có sự chênh lệch về trình độ phát triển, và Việt Nam nằm ở bậc thang thấp hơn trong chuỗi giá trị quốc tế. Đến nay, lợi thế so sánh của hàng xuất khẩu Việt Nam về tổng thể vẫn tập trung vào các ngành có hàm lượng kĩ thuật thấp và các hàng hóa nông sản. Bởi lẽ, trong số những hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Trung Quốc, các hàng hóa mang tính tài nguyên thô và sơ chế vẫn chiếm ưu thế nổi trội (như dầu thô, cao su, thủy sản, rau quả, hạt điều, than đá, dệt may, máy tính và linh kiện, đồ gỗ). Trong khi đó, Việt Nam lại nhập khẩu từ Trung Quốc hàng công nghiệp chế tạo, thiết bị linh kiện. Mặc dù có sự cải thiện về xuất khẩu hàng hóa như máy vi tính và linh kiện, điện thoại di động và linh kiện sang Trung Quốc nhưng đó đa phần là xuất khẩu của doanh nghiệp FDI tại Việt Nam chứ không phải của doanh nghiệp Việt Nam.

Để tránh việc bị khóa chặt vào “Lời nguyền tài nguyên mới”, Việt Nam cần chủ động cải thiện cơ cấu thương mại, đồng thời có các chính sách thích hợp hỗ trợ khu vực công nghiệp chế tạo. Để thực hiện điều này, nhóm nghiên cứu của VEPR cho rằng, cần có các giải pháp ngắn - trung hạn và các giải pháp dài hạn. Các giải pháp ngắn - trung hạn bao gồm việc điều chỉnh tỉ giá đồng VND; thiết lập các hàng rào kỹ thuật đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc; đầu tư cho công nghiệp chế biến nông sản. Về lâu dài, cần phối hợp xây dựng các ngành công nghiệp phù hợp cho Việt Nam; phát triển cụm liên kết ngành để cải thiện tình hình công nghiệp phụ trợ cho Việt Nam; xây dựng các chương trình đào tạo nghề để nâng cao chất lượng lao động.

(T.Hương)