Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào SXKD: Khắc phục tồn tại trong đầu tư, quản lý vốn NN

Chiều ngày 5/6, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch Nguyễn Thị Kim Ngân, Quốc hội (QH) thảo luận về dự án “Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào SXKD”. Đa số các đại biểu (ĐB) đều tán thành với sự cần thiết ban hành luật để khắc phục những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn đầu tư, quản lý vốn nhà nước và quá trình tái cơ cấu DNNN.

Đại biểu Thân Đức Nam phát biểu thảo luận tại hội trường chiều 5/6. Ảnh: Anh Đức (Báo hải quan)Đại biểu Thân Đức Nam phát biểu thảo luận tại hội trường chiều 5/6. Ảnh: Anh Đức (Báo hải quan)

Từ khi Luật DNNN năm 1995 hết hiệu lực từ 1/7/2010 đã để lại lỗ hổng lớn về luật pháp để điều chỉnh hoạt động của DNNN, trong khi đó, một lượng lớn tài sản nhà nước đưa vào kinh doanh lại chỉ được điều chỉnh bởi những quy định của Chính phủ. Vì thế, việc ban hành một luật để luật hóa các quy định quản lý, sử dụng và đầu tư vốn nhà nước vào DN là hết sức cần thiết. Các ý kiến đại biểu cũng tán thành với mục tiêu xây dựng dự thảo Luật là tạo cơ sở pháp lý cao cho hoạt động đầu tư và quản lý vốn Nhà nước (NN)  tại DN trên cơ sở kế thừa những quy định dưới Luật đã ban hành có liên quan đang thực hiện ổn định và có hiệu quả, bổ sung các quy định nhằm đáp ứng yêu cầu thực tiễn về quản lý đối với DNNN. Tuy nhiên, các đại biểu cũng cho rằng dự thảo cần quy định cụ thể, rõ ràng hơn trong một số điều khoản.

Trên cơ sở hoạt động thực tế của Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam, đại biểu Trần Xuân Hòa (Quảng Ninh), Chủ tịch Hội đồng thành viên Tập đoàn Than Khoáng sản Việt Nam đề nghị xem xét lại một số quy định về tài khoản góp vốn, bổ sung thêm một số quy định cụ thể về nhóm công ty với yêu cầu nhóm công ty phải đảo bảo tính đồng bộ, phân biệt rõ chủ thể và mối quan hệ.

Đại biểu Thân Đức Nam (Đà Nẵng) cho rằng, việc giám sát hoạt động đầu tư và quản lý vốn NN tại DN tuy là một yêu cầu bắt buộc, nhưng có thể dẫn đến hai tình trạng đối nghịch nhau.

Đó là càng tăng cường giám sát thì càng làm giảm tính tự chủ của DN, dẫn đến hiệu quả kinh doanh càng thấp. Khi nới lỏng giám sát thì DN có vẻ như tăng trưởng tốt hơn, nhưng lại dẫn đến kết quả là tạo ra sự lãng phí và thất thoát lớn.

Do đó, theo đại biểu, cả hai vấn đề này cần phải cân nhắc để tìm ra giải pháp tối ưu. ĐB đề nghị, ở cấp độ quản lý vĩ mô cần tăng cường quản lý NN và giám sát của chủ sở hữu bằng các công cụ pháp luật thay cho sự can thiệp một cách tùy tiện bằng mệnh lệnh hành chính, ở cấp độ điều hành DN cần có cơ chế ký kết các thỏa thuận về trách nhiệm và việc điều hành giữa các cơ quan đại diện chủ sở hữu NN với các nhà quản lý vốn NN hoặc điều hành DNNN.

ĐB Nguyễn Thị Hồng Hà (Hà Nội) cho biết, sau khi nghiên cứu bố cục, các chương, điều và quy định trong dự án luật cho thấy, dự án luật vẫn chưa thể hiện rõ quan điểm trong việc đổi mới, sắp xếp lại DNNN. Vì thế, cơ quan soạn thảo cần nghiên cứu, bổ sung, luật hóa tối đa các quy định tại văn bản dưới luật đã áp dụng có tính ổn định và phù hợp với tiến trình đổi mới, sắp xếp lại DNNN để đưa vào luật. Theo các ĐB thì trọng tâm của luật này phải tập trung vào việc “giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước đối với người đại diện chủ sở hữu tại DN, không quy định về loại hình DN và cách quản lý DN, mà cần để luật điều chỉnh”. Theo đó, phải hình thành hệ thống quan điểm về mô hình quản lý DNNN một cách rõ ràng trước khi chế định vào luật. Đồng thời, nên xây dựng một chương riêng về mô hình tổ chức DNNN sở hữu 100% vốn, nhất là đối với lĩnh vực độc quyền kinh doanh, cung ứng hàng hóa, dịch vụ công, DN quốc phòng an ninh. Còn các lĩnh vực khác mà Nhà nước tham gia đầu tư vốn trên góc độ là cổ đông thì không coi là DNNN, nhằm để tạo sự bình đẳng, cạnh tranh...

(T.H - tổng hợp)