Năm 2013: Đặt mục tiêu thu hút FDI khoảng 13 - 14 tỷ USD

Đây là thông tin đưa ra tại Báo cáo mới nhất về tình hình đầu tư nước ngoài, đầu tư ra nước ngoài năm 2012 và dự kiến năm 2013 do Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) công bố ngày 4/1, tại Hà Nội.

Ảnh: TH.Ảnh: TH.

Cụ thể, tính lũy kế đến ngày 15/12/2012, đã có 98 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư vào Việt Nam với 14.489 dự án còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký là 213,6 tỷ USD. Trong đó, lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút được nhiều nhà đầu tư nhất với tổng vốn đầu tư đăng ký là 9,1 tỷ USD, chiếm 70% tổng vốn đầu tư đăng ký năm 2012. Tiếp theo là lĩnh vực kinh doanh bất động sản với tổng vốn đăng ký 1,85 tỷ USD, chiếm 14,2%; lĩnh vực bán buôn bán lẻ, sửa chữa, chiếm 3,7%. Đặc biệt, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn nhất, chiếm 13,6% tổng vốn đăng ký, tiếp theo lần lượt là Đài Loan, Hàn Quốc và Singapore.

Tính từ 1/1/2012 đến 15/12/2012, cả nước có 1.100 dự án đầu tư nước ngoài mới được cấp giấy chứng nhận đầu tư và 435 lượt dự án tăng vốn đầu tư với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 13,01 tỷ USD, bằng 84,7% so với cùng kỳ năm 2011. Vốn thực hiện đạt 10,46 tỷ USD, bằng 95,1% năm 2011.

Tuy nhiên ĐTNN năm 2012 vẫn còn có một số tồn tại và khó khăn, đó là thu hút ĐTNN có xu hướng suy giảm trong mấy năm gần đây; chất lượng dự án đầu tư chưa cao, tỷ lệ tạo việc làm mới chưa tương xứng với mức thu hút vốn FDI; một số doanh nghiệp có hiện tượng gây ô nhiễm môi trường… Ngoài ra, chính sách pháp luật còn chậm được cải tiến, làm giảm tính cạnh tranh của môi trường đầu tư so với một số nước như Thái Lan, Indonesia, Myanmar,…

Thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam năm 2012 tuy có giảm về số vốn đăng ký so với năm 2011 nhưng theo Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài, Đỗ Nhất Hoàng: Trong năm 2012 mặc dù Việt Nam phải đối mặt với những khó khăn của nền kinh tế thế giới, cũng như những khó khăn nội tại ở trong nước, nhưng khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài vẫn tiếp tục đạt được những kết quả đáng khích lệ, đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế xã hội chung của đất nước. Lượng vốn đăng ký thêm của những dự án đã thực hiện tăng tới 58,5% so với năm 2011, điều này chứng tỏ các nhà đầu tư đang làm ăn tại Việt Nam vẫn tin tưởng vào môi trường đầu tư của Việt Nam cũng như triển vọng trong tương lai nên sẵn sàng tăng vốn đầu tư mở rộng sản xuất; phần lớn các dự án FDI trong năm 2012 tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất (chiếm 70%), phù hợp với định hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa.

Bên cạnh đó là các điểm sáng như khu vực FDI tăng trưởng tốt về xuất khẩu, chiếm 64% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, nộp ngân sách (chưa kể dầu thô) đạt 3,76 tỷ USD, chiếm 18,7% tổng thu nội địa, tăng 7,4% so với năm ngoái... Còn nếu tính cả dầu thô, thu ngân sách đạt 5,4 tỷ USD, vượt dự toán năm gần 30%.

Về dự kiến thu hút và giải ngân FDI năm 2013, theo đánh giá của các tổ chức quốc tế và chuyên gia kinh tế, nền kinh tế thế giới và Việt Nam trong năm 2013 sẽ vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, nguồn vốn đầu tư nước ngoài chưa thể phục hồi mạnh trong năm tới. Vì vậy, dự kiến vốn đầu tư đăng ký đạt khoảng 13 - 14 tỷ USD. Vốn thực hiện đạt khoảng 10,5 - 11 tỷ USD, tương đương năm 2012.

Muốn vậy, theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh, năm tới cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về đầu tư, ban hành chính sách ưu đãi đầu tư phù hợp với định hướng thu hút đầu tư nước ngoài giai đoạn 2011 - 2020 song cũng phải đảm bảo tính hấp dẫn, cạnh tranh so với các nước trong khu vực.

Đồng thời, cần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quy hoạch từ khâu lập, thẩm định, phê duyệt đến quản lý quy hoạch; hoàn thiện cơ chế phân cấp trong quản lý ĐTNN theo hướng phát huy quyền chủ động của địa phương, đảm bảo tập trung thống nhất, hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước.

Bên cạnh đó, Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ cùng các địa phương cải tiến căn bản phương thức xúc tiến đầu tư theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, theo từng ngành, lĩnh vực, khu vực và theo đối tác. Tránh tình trạng xúc tiến đầu tư tràn lan, tăng cường sự phối hợp, điều phối thống nhất chung và có kế hoạch. Tăng cường hỗ trợ cho các nhà đầu tư đang đầu tư tại Việt Nam hoạt động có hiệu quả (XTĐT tại chỗ).

Đặc biệt, cần giảm rào cản cho nhà đầu tư nước ngoài đối với một số ngành dịch vụ mà Việt Nam đang có nhu cầu, đồng thời xây dựng các rào cản kỹ thuật phù hợp với cam kết quốc tế để hạn chế các dự án không khuyến khích.

(T.Hương)