Nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV để hội nhập quốc tế

46% doanh nghiệp tư nhân trong nước và 50% doanh nghiệp FDI dự kiến sẽ mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh trong thời gian tới. Đây là mức cao nhất kể từ năm 2012 đến nay. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước còn chưa được cải thiện đáng kể.

Ảnh: TH.Ảnh: TH.

Đó là đánh giá của ông Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tại Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam giữa kỳ 2015 diễn ra hôm nay, ngày 9/10/2015.

Cộng đồng DN mong chờ cải cách

Cùng với nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô, hai động thái cải cách quan trọng của Chính phủ là thúc đẩy đàm phán ký kết các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với các đối tác lớn hàng đầu trên thế giới và chương trình cải cách thể chế và thủ tục hành chính theo Nghi quyết 19 đã mang lại niềm tin cho cộng đồng doanh nghiệp. Tuy nhiên, gần 70% doanh nghiệp vẫn kinh doanh không có lãi và mặc dù khu vực kinh tế tư nhân trong nước đã đóng góp gần 50% GDP, nhưng riêng khu vực kinh tế cá thể đã đóng góp tới trên 33% GDP, cho thấy khu vực tư nhân còn quá manh mún. Trong số các doanh nghiệp tư nhân đang hoạt động thì doanh nghiệp lớn chỉ chiếm chưa đầy 2%, doanh nghiệp vừa chiếm 2%, còn lại 96% là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ. Quy mô nhỏ, tính chất phi chính thức lớn, quản trị yếu kém, công nghệ thấp, khó tiếp cận nguồn vốn, khó tiếp cận thị trường, sức cạnh tranh không cao… đang là thực trạng phổ biến của các doanh nghiệp tư nhân trong nước. Nhưng xét về dài hạn, khu vực kinh tế tư nhân trong nước phải là động lực tăng trưởng chính, bảo đảm tính tự chủ của nền kinh tế và bảo đảm sự kết nối có hiệu quả giữa khu vực FDI và khu vực kinh tế nội địa. Để khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước có thể đảm nhận được vai trò này, VCCI đề nghị Chính phủ có chương trình hành động tổng thể thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong thời gian tới.

Nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV để hội nhập quốc tế ảnh 1
Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng.

Phát biểu tại Diễn đàn, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng cho biết: Kinh tế - xã hội Việt Nam 5 tháng đầu năm 2015 đã phát triển tốt hơn, vững chắc và hiệu quả hơn so với năm 2014, đây là nỗ lực chung của Việt Nam và sự hỗ trợ của các doanh nghiệp. Song bên cạnh những thành quả đạt được, nền kinh tế vẫn chưa thực sự bền vững và phát triển tương xứng với tiềm năng lợi thế của Việt Nam, tôi tin rằng chúng ta hoàn toàn có thể làm tốt hơn nữa, vững chắc hơn, nhưng hiện tại còn nhiều khó khăn, hạn chế yếu kém do chủ quan, từ quản lý quản trị điều hành. Thời gian tới Chính phủ Việt Nam sẽ nỗ lực phát huy kết quả đạt được, quyết liệt và đồng bộ hiệu quả hơn nữa, làm tốt hơn và cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, chúng tôi không hề thoả mãn mà quyết liệt hơn, ra sức khắc phục hạn chế khó khăn vướng mắc mà chúng tôi có thể hoàn toàn giải quyết được.

Theo đánh giá của bà Sherry Boger, Chủ tịch hiệp hội Doanh nghiệp Hoa Kỳ, Việt Nam đã rất thành công trong hội nhập kinh tế quốc tế nói chung và trong việc thu hút FDI. Việt Nam đã hưởng lợi nhờ sự tăng trưởng xuất khẩu đáng kể từ các nhà máy FDI. Tuy nhiên, năng lực của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (“SMEs”) tại Việt Nam nhìn chung còn yếu để có thể tham gia vào chuỗi cung ứng cho các nhà máy FDI. Chỉ 36% trên tổng số doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào mạng lưới sản xuất theo định hướng xuất khẩu, so với gần 60% ở Malaysia và Thái Lan. Chỉ có 21% các SMEs Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, và sự đóng góp của SMEs trong kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn nhiều so với các nước khác. Việc cải thiện cơ sở hạ tầng cả về phần cứng và phần mềm có thể giúp tăng tỷ lệ này lên đáng kể.

Phát triển kinh tế xã hội trong tương lai sẽ phụ thuộc vào khả năng hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu để chúng ta có thể hưởng lợi từ các nguồn vốn và công nghệ trên thế giới, tiếp cận thị trường toàn cầu. Cần ban hành pháp luật mới về SMEs và lựa chọn năm lĩnh vực công nghiệp để phát triển các cụm công nghiệp và sản phẩm trong chuỗi giá trị: điện tử, dệt may, chế biến thực phẩm, máy móc nông nghiệp, du lịch. Các kế hoạch hành động cần bao gồm hợp tác với khu vực tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp FDI, giúp Chính phủ và các doanh nghiệp xác định các chính sách ưu đãi để phát triển SMEs thành công ở các nước khác và các yêu cầu cho việc gia nhập chuỗi cung ứng toàn cầu và tăng cường hỗ trợ các cụm công nghiệp. Ngoài ra, cần phải có một hệ thống giáo dục hiện đại để hỗ trợ sự phát triển nói trên, việc tạo ra  các nguồn lực sinh viên tốt nghiệp có đủ kỹ năng và năng lực cần thiết để sẵn sàng làm việc đồng thời phát triển các nghiên cứu sáng tạo cho lĩnh vực sản xuất, các quy chuẩn nguyên tắc thực hành kế toán được chấp nhận trên toàn cầu, các thủ tục hành chính thuế được sắp xếp hợp lý và minh bạch, tất cả các yếu tố này sẽ góp phần thúc đẩy tích hợp chuỗi cung ứng.

Còn theo Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Châu Âu - ông Tomaso Andreatta, cộng đồng doanh nghiệp Châu Âu hy vọng rằng Việt Nam và EU sẽ đàm phán thành công một Hiệp định Thương mại Tự do toàn diện và khả thi, vì lợi ích của doanh nghiệp cả trong và ngoài nước. Chúng tôi tin rằng việc ký kết Hiệp định Thương mại Tự do này sẽ giúp Việt Nam thành công trong việc cải cách nền kinh tế, từ đó gia tăng niềm tin của các nhà đầu tư quốc tế và khuyến khích trao đổi thương mại ở phạm vi toàn cầu. Nếu được triển khai thực thi một cách đúng đắn, Hiệp định Thương mại Tự do EU-Việt Nam và AEC không những sẽ thúc đẩy thương mại thông qua việc gỡ bỏ các rào cản thuế quan, mà còn giúp Việt Nam đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn và chất lượng của Châu Âu và các nước phương Tây khác. Việc thực hiện các thủ tục hải quan hiệu quả và minh bạch có thể giúp Việt Nam đạt lợi ích tối đa từ các hiệp định thương mại này. Đồng thời, có thể giải quyết một vài vấn đề liên quan, bao gồm loại bỏ các yêu cầu phức tạp, nặng nề đối với hàng hóa nhập khẩu, ví dụ như yêu cầu trùng lặp cho việc thử nghiệm lâm sàng tại địa phương của ngành dược phẩm, cũng như cải thiện chất lượng các phòng thí nghiệm và phương thức xét nghiệm tại Việt Nam, và việc công nhận các kết quả xét nghiệm ở nước ngoài, ví dụ như đối với vấn đề an toàn thực phẩm. Cuối cùng, việc tiếp tục mở cửa thị trường để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể giúp tăng cường chuyển giao kỹ năng và công nghệ, yếu tố này sẽ giúp Việt Nam tránh khỏi "bẫy thu nhập trung bình".

Nâng cao năng lực cạnh tranh của DNNVV để hội nhập quốc tế ảnh 2
Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh.

Đặc biệt, nhiều đại diện doanh nghiệp phàn nàn về thủ tục cho doanh nghiệp FDI đầu tư vào Việt Nam khá rườm rà và đòi hỏi sự phê duyệt phức tạp hơn các nước khác. Trước vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh cho hay: Chưa có quốc gia nào làm được như Việt Nam khi vừa sửa đổi Luật Đầu tư, vừa hệ thống lại toàn bộ quy định ở các loại văn bản khác nhau về ngành nghề cấm kinh doanh, kinh doanh có điều kiện và điều kiện kinh doanh. Với quyết tâm cao cải thiện môi trường đầu tư, Chính phủ Việt Nam đã loại bỏ các ngành nghề cấm kinh doanh từ 51 xuống chỉ còn 6 ngành nghề và đều là những nghề quốc tế cấm chung. Cùng với đó, nếu trước đây có 385 ngành nghề kinh doanh có điều kiện đang hiện hữu thì nay Chính phủ đã rà soát và đưa xuống còn 267 ngành nghề. Tuy nhiên, trong 267 ngành nghề, chỉ 100 ngành nghề có điều kiện áp dụng riêng cho doanh nghiệp FDI, còn lại đều áp dụng chung cho tất cả các DN. Và Luật quy định hàng năm đều phải rà soát lại các điều kiện của mình theo hướng minh bạch, rõ ràng, nếu không còn phù hợp phải loại bỏ.

"Một xã hội càng tiên tiến cthì àng có nhiều điều kiện kinh doanh, nhất là ngành nghề liên quan sức khỏe, an ninh. Việt Nam còn phải làm nhiều việc hơn nữa để bảo vệ cho con người" - Bộ trưởng Bùi Quang Vinh nhấn mạnh.

Đơn giản tối đa điều kiện kinh doanh

Chủ tịch VCCI Vũ Tiến Lộc đề xuất: cần tiếp tục đơn giản hóa tối đa các điều kiện kinh doanh và thủ tục hành chính cho việc thành lập và vận hành doanh nghiệp, tăng cường đào tạo kỹ năng làm việc trong doanh nghiệp tại tất cả các trường đại học và trường nghề, xác lập chương trình đào tạo bắt buộc về khởi sự doanh nghiệp cho các chủ doanh nghiệp. Xây dựng và triển khai ngay một chương trình đào tạo rộng khắp theo kiểu “bình dân học vụ” nhằm nâng cao năng lực quản trị cho các doanh nghiệp đang hoạt động, bảo đảm hướng tới các chuẩn mực quốc tế trong quản trị doanh nghiệp... Cùng với đó là xây dựng và thực hiện “Chương trình quốc gia khởi nghiệp” để định hướng nghề nghiệp cho học sinh, sinh viên và trợ giúp thành lập các doanh nghiệp mới sáng tạo và doanh nghiệp hỗ trợ hoạt động trong các ngành và lĩnh vực Việt Nam có lợi thế cạnh tranh, trước hết là trong các lĩnh vực: Kinh doanh nông nghiệp tổng hợp gắn với công nghiệp chế biến thực phẩm (theo chuỗi ngành hàng từ sản xuất- nuôi trồng - chế biến đến phân phối), ngành chế tạo máy móc nông nghiệp, ngành điện tử, công nghệ thông tin, dệt may, chế biến gỗ, dược phẩm, du lịch… và hỗ trợ các ngành này theo chuỗi, theo cụm chứ không theo từng doanh nghiệp và công đoạn riêng rẽ như hiện nay.

Để giải quyết vấn đề về vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ cần có những chương trình cho vay vốn hiệu quả: tiếp tục giảm lãi suất cho vay trung và dài hạn, tiếp tục đơn giản hóa thủ tục và điều kiện cho vay, thực hiện những hình thức cho vay mới như cho vay theo các chuỗi sản xuất và cung ứng, tăng cường phương thức thuê mua tài chính, phát triển hình thức bảo lãnh tín dụng qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam và mạng lưới quỹ bảo lãnh tín dụng cần được tổ chức ở tất cả các cấp,mở rộng hình thức cho vay tín chấp, cho vay theo dự án sản xuất kinh doanh chứ không chỉ dựa vào tài sản thế chấp, khẩn trương đưa quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa vào hoạt động, phát triển các quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ tiên phong, quỹ đổi mới và ứng dụng khoa học công nghệ…

Tăng cường hệ thống thông tin về công nghệ và thị trường, kết nối hệ thống thông tin của các cơ quan nhà nước và hiệp hội doanh nghiệp, đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư cho doanh nghiệp. Việc cung ứng các dịch vụ đào tạo, cung cấp thông tin công nghệ, thị trường và xúc tiến hỗ trợ doanh nghiệp nên giao cho các hiệp hội doanh nghiệp thực hiện theo chủ trương xã hội hóa dịch vụ công được Chính phủ nhấn mạnh trong Nghị quyết 19.  400 hiệp hội doanh nghiệp đang hoạt động trong phạm vi cả nước với mạng lưới hội viên rộng khắp, nếu được hỗ trợ nâng cao năng lực, sẽ là một trợ thủ đắc lực cho Chính phủ trong việc triển khai các hoạt động trợ giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ có hiệu quả. Nhưng thực tiễn hơn một năm qua cho thấy, các bộ ngành đã chưa thực sự tích cực rà xét và thực hiện chuyển giao dịch vụ công cho các tổ chức xã hội và thị trường theo đúng yêu cầu của Nghị quyết 19 và chỉ đạo của Thủ tướng

Về cải cách thủ tục hành chính, Nghị quyết 19 đã thực sự mở đường cho những nỗ lực đột phá bước đầu đã thực hiện tốt trong các lĩnh vực Thuế, Hải quan, Bảo hiểm xã hội, thành lập doanh nghiệp... Kết quả khảo sát của VCCI cho thấy, lần đầu tiên trong nhiều năm, năm 2015, đã có hơn 70% doanh nghiệp cho biết họ hài lòng với công tác cải cách hành chính của ngành Thuế. Đó là một tiến bộ vượt bậc. Ví dụ trên cho thấy nếu thực hiện quyết liệt các mục tiêu của Nghị quyết 19 có thể mở ra triển vọng đột phá ở nhiều lĩnh vực trong một thời gian ngắn. Vấn đề  là cần có sự nỗ lực đồng bộ của tất cả các bộ ngành, từ tư duy, quan điểm đến hành động. Cũng liên quan đến thủ tục hành chính, chúng tôi đề nghị thực hiện nghiêm túc yêu cầu của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư mới về các ngành nghề kinh doanh có điều kiện và các điều kiện kinh doanh, tránh tình trạng Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư thì mở ra nhưng các Luật chuyên ngành và Nghị định, Thông tư hướng dẫn thì khép lại. Phải tiến hành rà xét và gỡ bỏ ngay các điều kiện kinh doanh và giấy phép kinh doanh không còn phù hợp trong số 5.000 thủ tục và điều kiện kinh doanh của 267 ngành nghề kinh doanh có điều kiện được quy định trong Luật Đầu tư, đồng thời với việc xóa bỏ tất cả các giấy phép và điều kiện kinh doanh nằm ngoài danh mục 267 ngành nghề đó.

Có thể nói, Nhà nước không chỉ cần xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi mà còn phải bảo đảm an toàn cho doanh nghiệp. Sự yếu kém của các thiết chế pháp lý bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của doanh nghiệp trong kinh doanh đang là một trong những điểm quan ngại hàng đầu hiện nay. Sự chậm trễ, hiện tượng oan sai trong xét xử, việc hình sự hóa các quan hệ kinh tế và hiệu lực thi hành các phán quyết của tòa án không nghiêm đang phát đi một tín hiệu về yêu cầu tăng cường cải cách tư pháp song hành với nỗ lực cải cách hành chính để nâng cao năng lực của các cơ quan xét xử và đảm bảo thi hành án, nâng cao niềm tin và sự dấn thân của doanh nghiệp vào sự nghiệp kinh doanh trong thời gian tới, khi mà yêu cầu “khởi nghiệp”, sáng tạo, chấp nhận mạo hiểm… đang là một xu hướng chủ đạo để tạo nên sức bật mới cho nền kinh tế Việt Nam.

Không dừng lại đó, để giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa cải thiện năng lực cạnh tranh, chuẩn bị cho hội nhập, rất cần cung cấp thông tin kịp thời và cụ thể về các cam kết, các cơ hội, thách thức cụ thể từ các FTA đối với doanh nghiệp. Chính phủ đang đàm phán cấp tập nhiều FTA, trong đó có những FTA thế hệ mới đặc biệt quan trọng như TPP, EVFTA nhưng đến nay, không nhiều doanh nghiệp biết về các FTA này, càng ít hơn nữa những doanh nghiệp có sự chuẩn bị cho các FTA. Để khắc phục tình trạng này, chúng tôi đề nghị Chính phủ xem xét thiết lập một cơ chế để cơ quan có thẩm quyền phối hợp với các đầu mối của cộng đồng doanh nghiệp như VCCI kịp thời cung cấp tất cả những thông tin có thể về các đàm phán, cam kết dưới các hình thức khác nhau cho doanh nghiệp, đồng thời, chỉ định một cơ quan có thẩm quyền để hướng dẫn, giải thích chính thức các cam kết khi doanh nghiệp có vướng mắc hoặc khi có cách hiểu khác nhau giữa cơ quan thực thi và doanh nghiệp.

"Chúng tôi đề nghị Quốc hội và Chính phủ sớm ban hành các: Luật cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước, Luật Hỗ trợ DNNVV,  Nghị định về Công nghiệp Hỗ trợ, Nghị định về Hiệp hội doanh nghiệp… để tăng cường cơ sở pháp lý, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng và thúc đẩy phát triển khu vực kinh tế tư nhân trong thời gian tới. Cuối cùng, với các DN FDI, chúng tôi đề nghị các bạn hợp tác với các cơ quan Chính phủ Việt Nam, với VCCI và các hiệp hội doanh nghiệp triển khai các chương trình hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển công nghiệp hỗ trợ để họ có thể trở thành đối tác, nhà cung cấp tham gia vào chuỗi giá trị của các bạn, để nâng cao hiệu quả kinh doanh và tạo ra sự lan tỏa về công nghệ và kỹ năng trong nền kinh tế Việt Nam. Đó chính là con đường phát triển bền vững của các bạn trong nền kinh tế Việt Nam, bảo đảm lợi ích của các bạn, của các đối tác và nền kinh tế Việt Nam" - Chủ tịch VCCI nhấn mạnh...

(T.Hương)