Nền kinh tế Việt Nam đã thoát đáy?

Xoay quanh câu hỏi "liệu năm 2013 đã là đáy của nền kinh tế Việt Nam" hay năm 2014 sẽ là lúc Việt Nam "thoát đáy" vẫn còn rất nhiều ý kiến trái chiều về thời điểm này.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Việt Nam đang ở "vùng đáy"

Tại Tọa đàm trực tuyến “Làm ăn gì năm 2014?” diễn ra sáng nay, ngày 11/12, TS. Lê Xuân Nghĩa, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, Viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển kinh doanh (BDI) cho biết: Kinh tế Việt Nam đã thoát đáy từ cuối quý 3/2013 và khả năng phục hồi sẽ rõ ràng hơn trong 2014. Biểu hiện là chỉ số phát triển công nghiệp, xuất khẩu của doanh nghiệp nội địa, chỉ số quản lý mua hàng PMI và đầu tư trực tiếp nước ngoài bắt đầu tăng mạnh từ đó cho đến nay.

Trong khi đó, theo TS. Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), nếu nhìn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế hiện nay so với giai đoạn khi vừa gia nhập WTO hoặc trước khủng hoảng, thì vẫn còn thấp hơn khá nhiều. Theo nghĩa đó, kinh tế Việt Nam có thể quay trở lại mức tăng trưởng tiềm năng, đòi hỏi phải 3-4 năm nữa. Nếu nhìn vào tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2013 (5,3 - 5,4%) và dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam 2 năm tới (khoảng 5,5% năm 2013 và 5,7 - 5,8% năm 2014, thấp hơn đôi chút mức tăng trưởng mục tiêu Quốc hội đề ra), thì thời điểm năm nay có thể coi là "đáy", tuy nhiên, ngay trong trường hợp này, sự phục hồi ở các lĩnh vực khác nhau cũng khác nhau.

Cũng cho rằng Việt Nam đang ở "vùng đáy", TS. Quách Mạnh Hào, Trưởng khoa Tài chính - Ngân hàng, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội - Thành viên Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Chứng khoán MB (MBS) cho rằng: Nền kinh tế vận động theo chu kì và chu kì này thường có mối liên hệ với các chính sách tiền tệ. Trong điều kiện kinh tế Việt Nam tôi cho rằng, chúng ta đang trải qua giai đoạn tạm gọi là "vùng đáy" sau khi đã "đổ đèo" trong 3 năm qua. Để "leo dốc" trở lại (tức là tăng trưởng), tôi nghĩ giai đoạn vùng đáy này kéo dài 2 đến 3 năm. Nói như vậy tôi tin rằng nền kinh tế chỉ có thể tốt lên thực sự vào năm 2015 - 2016. Điều kiện tiên quyết là chúng ta phải giải quyết được các vấn đề liên quan đến nợ xấu và hệ thống ngân hàng.

Như vậy, năm 2014, nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục tăng trưởng chậm và phải đối diện với nhiều vấn đề. Cụ thể, theo TS. Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách (VEPR), thuộc Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội, thâm hụt ngân sách của Chính phủ là một vấn đề trở nên quan trọng bởi trong những năm gần đây, nguồn thu giảm đi do doanh nghiệp suy yếu, đồng thời chi tiêu của Chính phủ đã không giảm tương ứng với nguồn thu. Chính phủ sẽ phải vay nợ nhiều hơn nhằm bù đắp thâm hụt ngân sách, điều này trực tiếp ảnh hưởng đến thị trường vốn. Tác động của thâm hụt thường không ảnh hưởng trực tiếp ngay đến nền kinh tế, nhưng nó tạo ra những rủi ro tiềm tàng. Ví dụ, giữ lãi suất ở mức cao mà đáng lẽ ra có thể hạ được xuống để hỗ trợ doanh nghiệp, hoặc tạo mối hoài nghi lạm phát sẽ quay trở lại vì người dân lo sợ Chính phủ phát hành tín dụng dễ dãi hoặc thậm chí phát hành tiền một cách lặng lẽ. Điều này có thể không thật xảy ra trong năm 2014 nhưng nó vẫn làm nhiều người lo ngại, e dè. Đó là điều tối kỵ trong kinh tế thị trường vì nó làm giảm lưu lượng các hoạt động kinh tế.

"Vấn đề nợ xấu và lãi suất tiếp tục đe dọa nền kinh tế vĩ mô. Nợ xấu có thực sự được giải quyết hay không phụ thuộc vào những chính sách cụ thể của Ngân hàng Nhà nước trong năm 2014. Nếu không có một dòng tiền thật sự chảy vào xử lý các khoản nợ xấu thì vấn đề vẫn chưa ngã ngũ và sự ổn định của toàn bộ hệ thống tài chính vẫn là một mối hoài nghi lớn. Cùng với đó, tỷ giá cũng là một vấn đề cần phải lưu tâm. Nếu tiếp tục giữ tỷ giá ổn định như hiện nay, hoặc kể cả giảm giá đồng tiền Việt 2 - 3% trong cả năm 2014 thì đồng tiền Việt vẫn còn mạnh. Điều này đe dọa toàn bộ nền sản xuất của Việt Nam trong những năm tới, đặc biệt với các doanh nghiệp phải cạnh tranh với hàng nhập khẩu. Mà khuynh hướng hội nhập sắp tới cho thấy sự cạnh tranh sẽ khốc liệt và trực tiếp hơn đến từ các nước láng giềng như Thái Lan và Indonesia. Nhưng nếu điều chỉnh tỷ giá quá nhiều thì lại tạo ra những sức ép rất lớn cho người làm chính sách. Đây vẫn là bài toán của những năm qua. Cuối cùng, tôi cho rằng thị trường bất động sản hiện nay vẫn tiềm tàng nhiều rủi ro rất lớn mà chưa bộc lộ hết, đặc biệt ở phía Bắc. Nếu có sự suy giảm thêm nữa của thị trường, hệ thống tài chính sẽ gánh chịu hậu quả trực tiếp. Nếu may mắn, chúng ta không phải chứng kiến điều này, còn nếu không may, điều này xảy ra, tôi cảm thấy công cụ chính sách để khắc phục hầu như không còn. Vì thế, đây là lĩnh vực thực sự may rủi. Ba vấn đề lớn là tăng trưởng kinh tế, lạm phát và cán cân thanh toán, theo tôi, không quá đáng lo ngại trong năm 2014 vì sẽ không khác nhiều so với năm 2013" - TS. Nguyễn Đức Thành khẳng định.

Cũng theo ông Thành, để cải thiện kinh tế Việt Nam trong năm 2014, chính sách quan trọng nhất là phải cải cách triệt để khu vực doanh nghiệp nhà nước theo hướng thu hẹp một cách dứt khoát và sau đó là kiểm soát chặt chẽ để nâng cao chất lượng các doanh nghiệp còn lại. Việc thu hẹp khu vực doanh nghiệp nhà nước vừa giải phóng một nguồn thu cho ngân sách, vừa loại bỏ một "khối u" chèn ép khu vực doanh nghiệp tư nhân. Chừng nào chưa có tư tưởng dứt điểm và mạnh dạn về vấn đề này, nền kinh tế sẽ không có khả năng phát triển kể cả trong dài hạn. Thực tế, trong khi cả nước đứng trước tình trạng khó khăn đều phải thắt lưng buộc bụng thì tôi thấy khu vực nhà nước có vẻ vẫn hoàn toàn ổn định. Điều này lý giải vì sao nhiều người muốn quay trở lại khu vực đó. Đáng nhẽ chúng ta cũng phải điều tiết chặt chẽ để chi tiêu trong khu vực này thật căn cơ, đồng hành cùng doanh nghiệp.

"Trước hết chúng ta cũng biết rằng nhiệm vụ chính mà Quốc hội, Chính phủ đã đặt ra là tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế, trong đó có rất nhiều việc phải làm, trước hết trong khu vực tài chính tiền tệ. Nếu nói rộng hơn, chuyên gia quốc tế vẫn cho rằng Việt Nam có mô hình tăng trưởng dựa vào vốn đầu tư là chưa tốt, cần phải tăng yếu tố nguồn nhân lực mới tạo được đột biến trong quá trình tăng trưởng. Tôi cho rằng việc phục hồi nền kinh tế trong năm 2014 phụ thuộc rất nhiều vào tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó có giải quyết nợ xấu của các ngân hàng thương mại, giải quyết nợ lên đến mức hơn 1 triệu tỷ đồng của các Tập đoàn, Tổng công ty Nhà nước..." - GS.TS Đặng Hùng Võ nhấn mạnh.

Gói kích cầu: Cần nhưng không có tiền

Để Việt Nam quay trở lại đà tăng trưởng ngoạn mục như những năm trước, dư luận cũng đặt ra câu hỏi liệu nền kinh tế Việt Nam có cần đến một gói kích thích định lượng như QE của Mỹ và Nhật để kích thích sản xuất, kích cầu tiêu dùng? Trước vấn đề này, TS. Lê Xuân Nghĩa chỉ nói ngắn gọn: Việt Nam rất cần gói kích cầu nhưng vì Chính phủ không đủ tiền nên... Việt Nam không cần gói này.

Trái ngược với quan điểm này, TS. Nguyễn Đức Thành cho biết: Thực tế, năm 2014, khả năng Chính phủ sẽ đẩy mạnh đầu tư công nhằm tạo động lực tăng trưởng, bằng cách cố gắng đẩy mạnh giải ngân cho các công trình công cũng như khởi động một số dự án đầu tư lớn. Nhưng không có nghĩa là sẽ có sự mở rộng đầu tư ồ ạt như những năm trước đây vì thực lực ngân sách hiện đã bị hạn chế nhiều. Thêm vào đó, bài học về mở rộng đầu tư thông qua tín dụng nhà nước dễ dãi là kinh nghiệm đau đớn trong mấy năm có lạm phát cao, sẽ làm Chính phủ phải thận trọng hơn. Việc điều hành tiền tệ hiện nay cũng chặt chẽ và hiệu quả hơn trước nhiều rồi. Vì thế, TS. Nguyễn Đức Thành cho rằng sẽ có sự cải thiện nhất định trong quy mô đầu tư công nhưng không đột biến, và sức ép lạm phát từ hoạt động này cũng không cao.

Ông Thành khẳng định: Tôi nghĩ để hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế Việt Nam hiện nay, không nên suy nghĩ theo hướng sử dụng các gói kích thích lớn từ Chính phủ mà nên chú trọng tới việc cải cách nội bộ nền kinh tế và hoạt động của Chính phủ nhằm giúp doanh nghiệp và người dân làm ăn dễ hơn, cảm thấy an toàn hơn, bớt phiền hà hơn. Đó chính là sự kích thích kinh tế bền vững nhất. Điều này khó thực hiện hơn nhiều việc đưa ra những gói kích thích ồ ạt mà trong những năm qua chúng ta đã làm thử và thấy hiệu quả không cao, chỉ dẫn tới lạm phát và lợi ích cho một số nhóm nhỏ. Xét cho cùng, nguồn tiền kích thích cũng do người dân trả hoặc con cháu của họ trả sau này. Vì thế, luôn cần thận trọng với những chính sách đó. 

"Thực tế hiện nay, nhiều doanh nghiệp phản ánh trong giai đoạn này thà "ăn hại còn hơn phá hoại", thà ngồi im không làm gì còn đỡ thiệt hại hơn là đẩy mạnh kinh doanh. Do vậy, đã có những doanh nhân đã từ bỏ thương trường, bởi đầu tư gì trong giai đoạn này cũng khó khăn và nguy cơ mất vốn cao. Điều tôi có cảm nhận rõ nhất có lẽ là chưa có lúc nào trong giai đoạn từ năm 2000 trở lại đây, tinh thần kinh doanh, tinh thần khởi nghiệp lại xuống đến vậy. Đặc biệt đối với các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa của Việt Nam. Tôi cho rằng đây là điều đáng lo ngại vì chính doanh nghiệp tư nhân trong nước mới là động lực quan trọng nhất cho sự phát triển của nền kinh tế nước nhà trong tương lai. Thời gian tới, Nhà nước cần có những giải pháp đột phá hơn nữa về cải cách thể chế, có cơ chế tạo động lực để tinh thần kinh doanh, khởi nghiệp mạnh mẽ trở lại" - ThS. Đậu Anh Tuấn, quyền Trưởng ban Pháp chế, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) chia sẻ thêm.

Còn theo TS. Quách Mạnh Hào, không làm gì cũng là một cách làm tốt trong thời khủng hoảng, nhưng tận dụng cơ hội thời khủng hoảng mới là quan trọng. Tùy quan điểm mỗi người và tùy ngành mà họ tham gia thì mới có câu trả lời chính xác là làm hay không làm. Còn quan điểm của tôi về nền kinh tế thì tôi nghĩ rằng có lẽ phải từ 2 đến 3 năm nữa nền kinh tế mới thực sự bắt đầu một chu kì mới. Điều này cũng có nghĩa là chúng ta có tới đến 2 hoặc 3 năm để chuẩn bị tạo đà cho một chu kì phát triển mới...

(T.Hương)