Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đạt kết quả tốt

(eFinance Online) - Theo Báo cáo Cập Nhật Kinh tế Khu vực Đông Á và Thái Dương do Ngân hàng Thế giới ban hành hôm nay, nền kinh tế Việt Nam tiếp tục đạt kết quả tốt nhờ kinh tế toàn cầu khôi phục bền vững và những cải cách trong nước đang được thực hiện. Tăng trưởng cao dẫn đến tạo việc làm và tăng thu nhập, đem lại những thành quả chung về phúc lợi và giảm nghèo.   
Ảnh minh họa - nguồn internet.Ảnh minh họa - nguồn internet.

GDP của Việt Nam ước tăng 7,1%

Lược qua những diễn biến gần đây, Báo cáo nêu rõ, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam ước tăng 7,1% (so cùng kỳ năm trước) trong nửa đầu năm 2018. Tăng trưởng GDP diễn ra đồng loạt, đứng đầu là ngành chế tạo chế biến với tăng vững chắc 13% nhờ sức cầu mạnh bên ngoài. Sản lượng ngành nông nghiệp cũng vươn lên đạt mức tăng trưởng 3,9% chủ yếu do kết quả tốt ở lĩnh vực thủy sản định hướng xuất khẩu. Bên cạnh đó, ngành dịch vụ vẫn duy trì tăng trưởng ổn định ở mức 6,9% nhờ lĩnh vực bán lẻ tăng trưởng mạnh trên cơ sở tiêu dùng tư nhân mạnh mẽ và ngành dịch vụ du lịch đạt kỷ lục.

GDP tăng trưởng cao đi kèm với lạm phát ở mức vừa phải và vị thế kinh tế đối ngoại được củng cố. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) toàn phần tăng bình quân 3,5%/ năm (thấp hơn chỉ tiêu 4% cho năm nay của Chính phủ), trong khi tỷ lệ lạm phát lõi xoay quanh 1,4% trong bảy tháng đầu năm 2018. Nền kinh tế đạt kết quả vững chắc nhờ cam kết của Chính phủ về ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng dựa vào khu vực tư nhân. Các chính sách kinh tế của Chính phủ tiếp tục tập trung cải cách theo định hướng thị trường nhằm giảmdần vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế, cảithiện môi trường kinh doanh và tiếptụcmở cửa kinh tế để thu hút đầu tư tư nhân. Bêncạnhđó, nền kinh tế năng động của Việt Nam tiếp tục tạo thêmthành quả về phúc lợi chung và giảm nghèo. Tăng việc làm hưởng lương kết hợp với tăng lương thực tế được cho là động lực giảm nghèo, đóng góp đến một nửa kết quả giảm nghèo kể từ năm 2014. Các bằng chứng cho thấy những cải thiện về tạo việc làm và tăng thu nhập tiếp tục diễn ra. Trên 900.000 việc làm hưởng lương được tạo ra trong năm 2017, còn mức lương thực tế tăng 4,3% do nhu cầu lao động vẫn đang phát sinh mạnh ở các ngành chế tạo, chế biến, xây dựng và dịch vụ. Trên cơ sở đó, tỷ lệ nghèo được dự báo tiếp tục giảm mạnh. Số liệu ước tính về tình trạng nghèo theo chuẩn nghèo quốc tế cho quốc gia thu nhập trung bình ở ngưỡng thấp (3,2$ ngang giá sức mua năm 2011) dự kiến sẽ giảm từ khoảng 8,2% năm 2016 xuống còn 6,4% năm 2018.

Xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục đạt kết quả ấn tượng nhờ nhu cầu bên ngoài mạnh hơn và năng lực sản xuất được mở rộng, chủ yếu do đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong các lĩnh vực chế tạo, chế biến định hướng xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam tăng 16% từ tháng 1 đến tháng 7 năm 2018. Đồng thời, tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu chững lại còn 11,1%, dẫn đến thặng dư cán cân thương mại và tài khoản vãng lai. Nhờ cán cân thanh toán thuận lợi, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tăng dự trữ ngoại hối lên mức kỷ lục - ướckhoảng 64 tỷ USD $ vào đầu tháng 6/2018.

Trong điều kiện áp lực lạm phát vừa phải, chính sách tiền tệ và tín dụng tiếp tục được cân đối giữa mục tiêu tăng trưởng và ổn định vĩ mô. Tăng trưởng tín dụng vẫn cao ở mức khoảng 17% (so cùng kỳ năm trước) do nhu cầu gia tăng về vốn cho các hoạt động kinh  tế và tiêu dùng. Tuynhiên, tăng trưởng tín dụng cao có thể dẫn đến những bất cân đối về phân bổ tín dụng và đầu tư rủi ro dẫn đến suy giảm chất lượng tài sản.

Quá trình tái cơ cấu ngân sách vẫn đang được tiến hành, nhưng chất lượng và tính bền vững vẫn cần cải thiện. Sau khi nợ công được ổn định vào năm 2017, ưu tiên vẫn là duy trì kỷ cương ngân sách. Điều chỉnh về chi ngân sách dẫn đến tổng bội chi ngân sách giảm còn khoảng 4,6% GDP năm 2017. Kết quả đó kết hợp với giảm bảo lãnh chính phủ và thu về cổ phần hóa ở mức cao dẫn đến tỷ lệ nợ công trên GDP giảm còn khoảng 58,9% trong năm 2017 so với 60% (theo cách tính trong GFS của IMF). Trong nửa đầu năm 2018, Chính phủ tiếp tục kiềm chế tăng chi để bù lại kết quả thu tương đối yếu.

Triển vọng trong trung hạn của Việt Nam tiếp tục được cải thiện. Tăng trưởng GDP dự báo sẽ đạt khoảng 6,8% trong năm 2018 (so với 6,5% trong dự báo hồi tháng 4/2018), trước khi chững lại ở mức 6,6% năm 2019 và 6,5% năm 2020 do sức cầu trên toàn cầu dự kiến chững lại theo chu kỳ. Mặc dù nền kinh tế có khởi sắc hơn, nhưng dự kiến lạm phát vẫn xoay quanh chỉ tiêu 4% của Chính phủ, với điều kiện chính sách tiền tệ được thắt chặt phần nào nhằm đối phó với áp lực giá phát sinh do áp lực về giá đầu vào trong nước và tăng giá thương phẩm trên toàn cầu. Về kinh tế đối ngoại, cân đối tài khoản vãng lai ước tính sẽ tiếp tục thặng dư trong ngắn hạn, nhưng mức độ thặng dự sẽ giảm dần từ năm 2019 do thâm hụt tăng lên ở tài khoản thu nhập và dịch vụ. Tình hình ngân sách được củng cố dự kiến sẽ kiềm chế được nợ công trong kỳ dự báo.

Rủi ro vẫn ở mức cao

Cho dù triển vọng trước mắt được cải thiện, nhưng rủi ro vẫn ở mức cao. Nhìn từ trong nước, tiến trình tái cơ cấu khu vực ngân hàng và DNNN chậm lại có thể tác động bất lợi đến tình hình tài chính vĩ mô, làm suy giảm triển vọng tăng trưởng và tạo ra nghĩa vụ lớn cho khu vực nhà nước. Những rủi ro bên ngoài bao gồm chủ nghĩa bảo hộ leo thang, bất định địa chính trị trong khu vực và trên toàn cầu tăng lên, các điều kiện huy động vốn trên toàn cầu tiếp tục được thắt chặt có thể dẫn đến những biến động gây xáo trộn trên thị trường tài chính.

Các nhà hoạch định chính sách cần tận dụng môi trường kinh tế thuận lợi để đẩy mạnh những chính sách làm tăng khả năng chống chịu về kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong tương lai. Chính sách tiền tệ cần điềuchỉnh lượng thanh khoản trong khu vực ngân hàng sao cho lãi suất liên ngân hàng gắn với lãi suất chính sách và đưa tăng trưởng tín dụng về mức phù hợp với các yếu tố căn bản. Nỗ lực trên có thể được bổ trợ bằng các biện pháp cẩn trọng vĩ mô nhằm ngăn ngừa tình trạng dành tín dụng quá mức cho các lĩnh vực  rủi ro cao như bất động sản hoặc tiêu dùng cá nhân. Hơn nữa, các bước nhằm tăng cường giám sát khu vực ngân hàng, xử lý nợ xấu, củng cố tỷ lệ an toàn vốn sẽ không chỉ giảm rủi ro về ổn định tài chính mà còn đem lại những cải thiện về trung gian tài chính, góp phần nâng cao tăng trưởng trong trung hạn. Tỷ giá hối đoái nếu được quản lý chủ động và linh hoạt hơn có thể giúp giảm thiểu rủi ro do những biến động kinh tế từ bên ngoài.

Về chính sách tài khóa, mục tiêu tiếp tục giảm bội chi đòi hỏi phải có một chiến lược tổng thể nhằm nâng cao hiệu suất chi tiêu và duy trì bền vững tiềm năng thu trong trung hạn. Bên cạnh chính sách kinh tế vĩ mô cẩn trọng là nhu cầu tiếp tục chú trọng cải cách cơ cấu sâu rộng, bao gồm cả những cải cách pháp quy nhằm xóa bỏ rào cản và giảm chi phí hoạt động của khu vực tư nhân, đầu tư cho nguồn nhân lực và hạ tầng chất lượng cao, tiếp tục cải cách nhằm nâng cao năng suất trong khu vực DNNN. Một số địa phương vừa phải hứng chịu thiên tai bão lũ trong thời gian qua. Vì vậy, đầu tư cho các biện pháp giảm thiểu biến đổi khí hậu vẫn là ưu tiên để phòng ngừa tình trạng dễ tổn thương cho các hộ gia đình ở Việt Nam trước các cú sốc thiên tai.

(T.H)