Ngân hàng xanh là nguồn lực để thực hiện tăng trưởng xanh

Ngoài việc dựa vào ngân sách Nhà nước thì nguồn lực tài chính và ngân hàng xanh sẽ là nguồn lực quan trọng để thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh từ nay đến năm 2020.

Các đại biểu tham gia hội thảo “Giới thiệu về tài chính và ngân hàng xanh”. Ảnh nguồn báo Hà nội mới.Các đại biểu tham gia hội thảo “Giới thiệu về tài chính và ngân hàng xanh”. Ảnh nguồn báo Hà nội mới.

Tại “Hội thảo Tài chính và Ngân hàng xanh” do Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước và Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức (GIZ) tổ chức ngày 25/6, ông Phạm Hoàng Mai, Vụ trưởng Vụ Khoa học, Giáo dục, Tài nguyên Môi trường- Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết: Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đã được Chính phủ phê duyệt vào tháng 9/2012 cho giai đoạn từ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050. Trong đó, ba nhiệm vụ cơ bản đã được Bộ Kế hoạch và Đầu đặt ra gồm: tăng trưởng cacbon thấp; xanh hóa sản xuất và xanh hóa lối sống. Bước đầu đang tập trung vào chín ngành công nghiệp chính như: xây dựng; vật liệu xây dựng; xi măng; dệt may; hộ gia đình; bột giấy và giấy; sản xuất điện; sắt và thép; giao thông đường bộ với tổng cộng khoảng 35 hoạt động và chi phí dự kiến khoảng 30 tỷ USD.

Với chi phí lớn như vậy, ngoài việc dựa vào ngân sách Nhà nước thì sự tham gia của khu vực tư nhân với vai trò là nhà đầu tư và người tiếp nhận cũng đang được hướng đến. Trong đó, ngân hàng xanh sẽ là nguồn lực quan trọng để thực hiện Chiến lược tăng trưởng xanh từ nay đến năm 2020.

Nói là vậy song theo Giám đốc Quỹ vùng đặc biệt về phát triển hệ thống tài chính - Hội sở Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ), ông Roland Gross, thực tế, các ngân hàng Việt Nam thiếu kinh nghiệm về các công nghệ mới, gặp khó khăn về các khoản tín dụng cho năng lượng mới, thường đánh giá rủi ro các dự án này còn cao, do đó giảm việc hỗ trợ vốn một cách hiệu quả so với các dự án thông thường. Đặc biệt, tình trạng chung của các ngân hàng Việt Nam hiện nay là quá tập trung vào các tài sản thế chấp thay vì quan tâm đến dòng tiền đầu tư vào dự án. Các ngân hàng ưa thích các dự án ngắn hạn thông thường hơn, trong khi các chương trình tiết kiệm năng lượng dài hạn hơn lại không được chấp thuận như một khoản đầu tư, lựa chọn hoàn trả hay tài sản thế chấp.

“Khảo sát các  các doanh nghiệp cho thấy: khuôn khổ chính sách chung của Việt Nam khiến các nhà đầu tư thiếu động lực đầu tư vào công nghệ xanh. Các sản phẩm tài chính xanh chuyên biệt thường không được khuyến khích và thủ tục cho vay còn phức tạp. Việc lãi suất cho vay không được ưu đãi nhiều cũng bổ sung thêm các yếu tố giảm động lực cho doanh nghiệp đầu tư công nghệ xanh.” Đại diện GIZ cho biết thêm.

Có cùng quan điểm, bà Vũ Xuân Nguyệt Hồng – Viện Nghiên cứu và Quản lý kinh tế Trung Ương (CIEM) phân tích: Tài chính và ngân hàng xanh tại Việt Nam còn mới mẻ, thậm chí giải pháp về tài chính xanh còn ít, chưa có giải pháp ngân hàng xanh trong chiến lược tăng trưởng xanh. Các ngân hàng thương mại truyền thống chưa sẵn sàng cung ứng sản phẩm và dịch vụ tài chính xanh. Do đó, cần nâng cao nhận thức của các thể chế tài chính là ngân hàng về lợi ích và hiệu quả của cung cấp tín dụng, vốn xanh.

Lý giải nguyên nhân các ngân hàng còn e ngại cho vay, ông Cát Quang Dương, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng NHNN cho biết: Qua khảo sát 75 ngân hàng thương mại có 63% các ngân hàng tham gia khảo sát khẳng định có cân nhắc vấn đề môi trường trong thẩm định tín dụng…Tuy nhiên, hầu hết các ngân hàng thừa nhận chưa có quy định chính thức hoặc hệ thống quản lý rủi ro môi trường. Hiện còn thiếu văn bản quy định về quản lý môi trường, ngân hàng trong ngành tài chính. Tuy nhiên, NHNN đã có những bước đi ban đầu hướng tới ngân hàng xanh. NHNN đã ký các thoản thuận hợp tác với Công ty Tài chính quốc tế (IFC) xây dựng quy định về quản lý rủi ro môi trường và xã hội áp dụng trong ngành ngân hàng. Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá rủi ro môi trường, xã hội đối với từng ngành, tiêu chí về các khoản tín dụng đầu tư phải thẩm định rủi ro môi trường…NHNN cũng cho biết lộ trình xây dựng Thông tư quy định về quản lý rủi ro môi trường xã hội là đang xin ý kiến dự thảo lần 1 cuối quý II và lần 2 là cuối quý III năm 2013, dự kiến ban hành vào khoảng đầu năm 2014.

(T.Hương)