Nguồn lực xã hội đang tập trung chủ yếu vào 8 "quả đấm thép"

30 năm trôi qua, đổi mới doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn là câu chuyện thời sự và hơn lúc nào chúng ta cần xem xét lại vai trò, chức năng của DNNN, đặc biệt khi hiện có xấp xỉ 800 doanh nghiệp nhà nước (DNNN) nhưng nguồn lực nhà nước đang tập trung chủ yếu vào 8 tập đoàn kinh tế - được coi là các "quả đấm thép".

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

"Lợi đơn lợi kép" cho DNNN

Tại hội thảo “Doanh nghiệp Nhà nước: Ràng buộc ngân sách, khung khổ quản trị và biến dạng thị trường” do Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức ngày 27/5, ông Phạm Đức Trung, Phó Trưởng ban cải cách và phát triển Doanh nghiệp (CIEM) cho rằng: Trên thế giới DNNN vẫn tồn tại khách quan và là thực tế. Tuy nhiên có xu thế đáng chú ý gần đây là trong danh mục các DN lớn ngày càng nhiều DNNN tham gia, nhất là các nước có nền kinh tế chuyển đổi, ảnh hưởng đến hoạt động thương mại. Vì vậy luôn có những đòi hỏi DNNN phải tuân thủ nguyên tắc thị trường, không làm biến dạng thị trường. Điển hình như năm 2002 trong vụ kiện bán phá giá cá basa, Hoa Kỳ xác định Việt Nam có nền kinh tế phi thị trường. Thực tế cho thấy DNNN chưa có cơ chế phân bổ nguồn lực phù hợp, vai trò điều tiết của Nhà nước còn quá lớn. DNNN chi phối nhiều thị trường quan trọng, trong khi đó, khu vực tư nhân bị hạn chế trong tiếp cận nguồn lực. 

"Theo khái niệm mới của Luật Doanh nghiệp 2014, DNNN chỉ là DN có 100% vốn Nhà nước. Hiện có xấp xỉ 800 DNNN, tài sản lên tới 2,8 triệu tỷ đồng, tương đương 80% GDP. Con số này cho thấy quy mô DNNN rất lớn. Trong khi vốn chủ sở hữu là 1,1 triệu tỷ đồng thì số nợ phải trả của các DNNN là 1,7 triệu tỷ đồng. Theo thông lệ thế giới, nếu gộp nợ của DNNN vào số nợ công thì nợ trên con số báo cáo sẽ tăng gấp đôi, cho thấy vai trò DNNN ỏ Việt Nam hiện nay không nhỏ. Mặc dù nhiều DN là vậy nhưng nguồn lực đang tập trung vào 8 tập đoàn kinh tế. Tôi hiểu dụng ý trước đây là thành lập các quả đấm thép, về phương diện này đã đạt mục tiêu, nhưng trên phương diện khác là tập trung quá lớn nguồn lực vào một số DNNN." - Ông Phạm Đức Trung phân tích.

Tỷ trọng nợ của DNNN trong tổng dư nợ tín dụng của ngân hàng thương mại giảm xuống còn dưới 20%. Vấn đề là một số ít tập đoàn, tổng công ty lớn được ngân hàng thương mại cho vay. Điều này làm tập trung nguồn lực vào một số DNNN, khiến rủi ro cao, quá lớn để sụp đổ, không đụng chạm được vào. Lý do ngân hàng thương mại cho những DNNN được xem là kém hiệu quả vay là do họ kỳ vọng vào sự an toàn. Khi DN không trả được nợ đã có Nhà nước trả. Thực tế đúng là như vậy. Thứ hai là có sự chỉ đạo, chỉ định, bảo lãnh, tín chấp của Nhà nước cho các DNNN này. Trong giai đoạn từ năm 2010-2014 có 22 văn bản chỉ đạo cho phép DNNN vay. Đây là một trong những lý do tạo ra cơ sở cho các ngân hàng thương mại cho DNNN vay vốn với khối lượng lớn.

Không chỉ có vậy, khu vực DNNN cũng có lợi thế hơn trong tiếp cận vốn vay nước ngoài. Phần lớn các khoản vay nước ngoài dành cho tập đoàn, tổng công ty Nhà nước. Nguyên nhân là Luật Quản lý nợ công không phân biệt loại hình DN nhưng có ưu tiên cho các loại hình dự án mà trên thực tế thuộc về một số tập đoàn, tổng công ty.

Thêm nữa, DNNN có ưu thế trong tiếp cận đất đai và mặt bằng sản xuất kinh doanh. Dù pháp luật hiện hành không phân biệt việc giao, cho thuê đất sản xuất kinh doanh nhưng ước tính thực tế DNNN đang nắm giữ 70% mặt bằng sản xuất kinh doanh. Giá trị tài sản Nhà nước do các DNNN quản lý, sử dụng nhiều năm qua không phản ánh đúng giá trị các nguồn lực Nhà nước đầu tư. Hao phí của một số loại tài sản Nhà nước không được thể hiện trong chi phí, giá thành. Nếu tính đúng, tính đủ các chi phí, hiệu quả của không ít DNNN sẽ thấp hơn nhiều so với số liệu báo cáo. Cơ chế định giá sản phẩm, dịch vụ của nhiều DNNN chưa theo nguyên tắc thị trường mà theo chi phí bình quân dài hạn trên cơ sở chi phí thống kê hạch toán giá thành thiếu độ tin cậy. Giá các sản phẩm dịch vụ công ích dựa trên cơ sở định mức lạc hậu, thiếu căn cứ khoa học và thực tiễn. Đây là một trong những nguyên nhân chưa tạo động lực để DN khác tham gia, dẫn tới vẫn thuộc lĩnh vực chi phối của DNNN.

TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng CIEM cho rằng 30 năm trôi qua đổi mới DNNN vẫn là câu chuyện thời sự, cần xem xét lại vai trò, chức năng của DNNN; Cổ phần hóa thực chất, không hình thức, nửa vời. Áp lực kỷ luật ngân sách và kỷ luật thị trường, trong đó ràng buộc lợi nhuận bình quân thị trường, thua lỗ kém hiệu quả dứt khoát bị đào thải, bị trừng phạt đối với cá nhân có liên quan. Dù vậy, ông Nguyễn Đình Cung cũng thừa nhận điều này là “không dễ làm”.

Không nên tuyệt đối hóa vai trò DN tư nhân

Hệ thống pháp luật đã nỗ lực đặt DNNN trong một khung khổ chung với DN khu vực tư nhân. Tuy vậy thực thi và ứng xử của Nhà nước và các chủ thể khác tạo ra nhiều ưu thế, đặc quyền, đặc lợi cho một bộ phận DNNN trong nhiều lĩnh vực. Quan điểm phần lớn người dân cho rằng chỉ DNNN mới làm được sản phẩm dịch vụ công ích, tạo ra biến dạng thị trường. Đơn cử như việc tăng chi phí và tạo rào cản gia nhập thị trường cho các DN khác; ưu tiên tiếp cận vốn vay; chưa tính đúng tính đủ chi phí; DNNN chưa bị giải thể phá sản một cách bình đẳng như các khu vực khác; thiếu ràng buộc ngân sách và kỷ luật tài chính. Tập đoàn, Tổng công ty thống lĩnh chi phối nhiều thị trường quan trọng như điện, xăng dầu khoáng sản, dịch vụ viễn thông, vận tải hàng không nội địa… Điều này khiến DN tư nhân khó gia nhập vào các thị trường này bởi những giấy phép kinh doanh có điều kiện, không đủ quy mô và nguồn lực để cạnh tranh sòng phẳng.

Theo TS Nguyễn Đình Cung, muốn phát triển DN tư nhân, việc cần làm ngay là cải cách DNNN, phải thu nhỏ quy mô, phạm vi hoạt động của DNNN. Dư địa cho tư nhân không còn nếu không cải tạo được DNNN. Thực tế, nếu không cải cách DNNN thì DN tư nhân phát triển lên lại tạo ra độc quyền tư nhân. Mà sự méo mó của DN tư nhân thậm chí còn kinh khủng hơn DNNN.

Tuy nhiên, theo ông Hà Huy Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia, không cẩn thận chúng ta quá đề cao vai trò DN tư nhân và cho rằng mọi thứ DN tư nhân đều làm tốt hơn DNNN. Đó là thái cực cần cân nhắc kỹ. Chúng ta không phủ nhận DN tư nhân ở khía cạnh nào đó làm tốt hơn DNNN. Khi đánh giá, chúng ta cũng phải thận trọng để tránh chuyển sang thái cực ấy. DN tư nhân có điểm tốt nhưng cũng có vấn đề, tránh tuyệt đối hóa vai trò của DN tư nhân. Trong vấn đề tái cơ cấu ngân hàng, rõ ràng các ngân hàng thương mại cổ phần có nhiều vấn đề trong quá trình quản trị. Giữa ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng cổ phần thì thấy không phải ngân hàng cổ phần tư nhân luôn luôn tốt. Xung quanh vấn đề quản trị DNNN và DN tư nhân, chúng ta cần có suy nghĩ kỹ. Đáng chú ý, vướng mắc nhất khi chuyển sang cổ phần hóa là giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích trước mắt và lâu dài. Thực tế, những người liên quan đến lợi ích lâu dài họ có Tính toán khác, trong khi đó, những người nhảy vào tìm lợi ích ngắn hạn họ lại có suy nghĩ khác. Do đó tìm lời giải cho vấn đề này không hề dễ trong bối cảnh Việt Nam cũng như quốc tế hiện nay.

(T.Hương)