Nhiều lỗ hổng trong công tác chống buôn lậu

Nằm tiếp giáp với Trung Quốc, Lào, Campuchia…Việt Nam đang trở thành điểm đến và là nơi trung chuyển hàng giả, hàng nhập lậu và gian lận thương mại giữa các nước CLMV (Campuchia, Lào, Myanmar và Việt Nam).

Ảnh: THẢnh: TH
Tại Hội thảo Chống buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại giữa các nước CLMV do Dự án Hỗ trợ Chính sách Thương mại và Đầu tư của châu Âu (EU-MUTRAP) hỗ trợ tổ chức, ông Nguyễn Thắng Lợi, Phó Giám đốc Sở Ngoại vụ Lạng Sơn cho biết: Với 02 cửa khẩu quốc tế, 02 cửa khẩu quốc gia và 07 cặp chợ biên giới, có thể nói, Lạng Sơn là địa bàn rất thuận lợi cho các đối tượng buôn bán, vận chuyển hàng lậu hoạt động. Tình trạng buôn lậu tại Lạng Sơn diễn ra rất phức tạp với việc các chủ đầu nậu sang Trung Quốc đặt mua hàng, sau đó, giao khoán cho các đối tượng “kai” vận chuyển hàng về. “Kai” này sử dụng thủ đoạn lôi kéo cư dân biên giới gánh, vác hàng vào nội địa bằng xe ô tô tải, ô tô chở khách, xe du lịch loại từ 4-16 chỗ ngồi, tàu hỏa... Thêm nữa, chúng còn lợi dụng kẽ hở của chính sách, quy định để hợp thức hóa chứng từ cho hàng buôn lậu; gian lận về số lượng khi nhập khẩu dưới hình thức vùi dưới hàng hóa nhập khẩu của những lô hàng không thuộc diện phải kiểm hóa toàn bộ, hoặc hàng hóa nhập khẩu theo hình thức chuyển cảng qua tuyến đường sắt liên vận từ Bằng Tường (Trung Quốc) về Hà Nội.
 
Cũng chịu tác động hàng hóa Trung Quốc vào và qua Hà Nội khá lớn, đây là nguồn chính của hàng giả mạo nhãn hiệu, xuất xứ đưa vào Hà Nội. Bên cạnh đó, hàng giả, hàng kém chất lượng từ các làng nghề xung quanh Hà Nội cung cấp và tiêu thụ khá lớn trên địa bàn. Cùng với tốc độ phát triển kinh tế trong thời kỳ hội nhập, Thủ đô cũng phải đối mặt với vấn nạn hàng giả, hàng kém chất lượng, hàng vi phạm về sở hữu công nghệ và luôn biến động phức tạp.
 
Đáng chú ý, theo ông Vương Trí Dũng - Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường TP. Hà Nội, sự quan tâm về thực thi bảo hộ về quyền sở hữu trí tuệ không chỉ gắn với quyền lợi của doanh nghiệp mà nó còn luôn gắn chặt với lợi ích quốc gia. Thực tế nhiều năm qua cho thấy người Trung Quốc dù có đến 80% hàng hóa lưu thông nhưng hiếm thấy doanh nghiệp và các đại diện pháp lý về quyền sở hữu công nghiệp của nước này quan tâm đến thực thi bảo hộ sở hữu công nghiệp cho các thương hiệu của họ tại Việt Nam. Lý do dễ hiểu bởi họ là trung tâm sản xuất và cung ứng lớn nhất các loại hàng hóa xâm phạm quyền cho cả thế giới, quốc gia và doanh nghiệp của họ cũng đang được hưởng lợi về vấn đề này.
 
Hàng lậu cũng rất đa dạng về chủng loại, bao gồm cả các mặt hàng là hàng cấm, hàng giả, vi phạm sở hữu trí tuệ, không đảm bảo chất lượng, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm; các mặt hàng điện tử, điện lạnh, máy công cụ cầm tay, đồ gia dụng, quần áo may mặc sẵn, trang thiết bị văn phòng, đồ dùng học sinh, giày dép, thủy, hải sản tươi sống, cây con giống, rau, củ quả, gia cầm và sản phẩm gia súc. Có những đoạn biên giới, xe ô tô chở gia cầm của Trung Quốc đỗ sát biên giới nên quân cửu vạn chỉ việc vác qua biên giới bằng các đường vòng.
 
Trong thời gian từ năm 2008 đến hết 6 tháng năm 2013, Cục Quản lý thị trường Lạng Sơn đã tiến hành kiểm tra và xử lý 31.630 vụ với tổng số tiền phạt vi phạm hành chính lên tới gần 60 tỷ đồng, trị giá hàng hóa tịch thu đạt hơn 308 tỷ đồng... Kết quả là tình trạng buôn lậu đã giảm nhiều so với các năm trước, hàng giả, vi phạm sở hữu trí tuệ tuy còn bày bá công khai nhưng với số lượng nhỏ lẻ; các cơ sở sản xuất, kinh doanh liên quan đến thực phẩm cơ bản đã chấp hành tốt các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm...gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu đã giảm hẳn.
 
Nguyên nhân được ông Lợi lý giải là do dân cư biên giới và khu vực phụ cận thiếu đất đai canh tác, không có việc làm, thu nhập thấp nên đã bị lôi kéo mang vác hàng lậu cho “kai” lậu. Bên cạnh đó, các đối tượng buôn lậu, kinh doanh hàng giả, hàng vi phạm sở hữu trí tuệ, không đảm bảo chất lượng và vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm luôn thay đổi phương thức và địa bàn hoạt động, lợi dụng triệt để các quy định chưa chặt chẽ...Thêm nữa, phía Trung Quốc cũng tạo điều kiện tối đa cho hàng hóa của họ xuất lậu sang Việt Nam, kể cả hàng hóa không đảm bảo an toàn thực phẩm, kém chất lượng, vi phạm sở hữu trí tuệ, hàng hóa, hàng cấm.
 
Góp phần vào tình trạng buôn lậu này, những yếu kém của hàng hóa trong nước chưa được khắc phục như giá cao trong khi chất lượng chưa cao, mẫu mã chưa đẹp, chưa đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng, nhà sản xuất trong nước chưa quan tâm đến công tác xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý, đăng ký sở hữu trí tuệ...Mặt khác, tâm lý người tiêu dùng Việt Nam thích dùng hàng hiệu nhưng giá rẻ nên vô tình đã tiếp tay cho các hành vi buôn lậu, hàng giả và vi phạm sở hữu trí tuệ.
 
Có thể nói, hàng giả đã và đang lưu thông công khai tại Việt Nam, người tiêu dùng Việt Nam vừa là nạn nhân vừa là người tiếp tay tiêu thụ hàng giả. Các vụ phát hiện và đề nghị xử lý xâm hại đều do chủ sở hữu, rất ít từ người tiêu dùng.
 
Nhiều quy định thiếu chặt chẽ
 
Thực tế cho thấy vẫn còn tồn tại những quy định thiếu chặt chẽ như quy định về hóa đơn chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu các tổ chức, cá nhân không trực tiếp nhập khẩu lưu thông trên thị trường, theo quy định tại Thông tư liên tịch số 60/2011/TTLT-BTC-BCT-BCA về hướng dẫn chế độ hóa đơn chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường. Cụ thể, hàng hóa nhập khẩu mua lại của các tổ chức, cá nhân khác để kinh doanh chỉ cần có hóa đơn bán hàng của bên bán là đủ. Mặt khác, việc cấp và quản lý hóa đơn bán hàng của ngành chức năng cho các hộ kinh doanh cũng còn thiếu các quy định chặt chẽ và chế tài xử lý mà cụ thể là còn tùy tiện phát hành hóa đơn để hợp thức hóa cho hàng lậu; nhận quyển hóa đơn từ cơ quan chức năng về đưa luôn cho đối tượng buôn lậu tự viết theo từng lô hàng hoặc theo tỷ lệ %; ghi hóa đơn tùy tiện, tên hàng, đơn vị tính, giá thấp hơn giá thực tế trên thị trường.
 
Quy định về nhập khẩu hàng hóa theo hình thức chuyển cảnh được quy định tại Nghị định 154/2005/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hải quan về thủ tục Hải quan, kiểm tra, giám sát Hải quan, theo đó, các tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa có thể mở tờ khai nhập khẩu tại Chi cục Hải quan trong nội địa. Các đối tượng buôn lậu, gian lận thương mại lợi dụng quy định này để hoạt động ngày càng mạnh.
 
Chính vì thế, theo ông Lợi, để phòng và chống buôn lậu qua biên giới trong thời gian tới cần làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục và vận động quần chúng, định hướng, khích lệ người tiêu dùng về lòng tự tôn dân tộc trong việc sử dụng hàng hóa sản xuất trong nước. Đồng thời, lập các hòm thư, số điện thoại để quần chúng nhân dân tố giác các đối tượng, địa bàn, tụ điểm kinh doanh, vận chuyển và chứa chấp hàng giả, hàng lậu để các lực lượng chức năng kiểm tra xử lý. Mặt khác, phải có thái độ nghiêm khắc đối với những tập thể, cá nhân không hoàn thành nhiệm vụ, kiên quyết xử lý những cán bộ có hành vi tham nhũng, tiêu cực; buộc phải chuyển công tác đối với những cán bộ không đủ phẩm chất, năng lực hoặc có biểu hiện bảo kê, dung túng cho buôn lậu, hàng giả và gian lận thương mại.
 
Về cơ chế chính sách, ông Lợi đề nghị phải sửa đổi ngay khoảng 2 Điều 6, Thông tư số 60/2011/TTLT-BTC-BCT-BCA hướng dẫn chế độ hóa đơn chứng từ đối với hàng hóa nhập khẩu lưu thông trên thị trường theo hướng mọi tổ chức, cá nhân khi mua bán, vận chuyển hàng hóa nhập khẩu ra ngoài khu vực biên giới vì mục đích kinh doanh thì người bán phải đem bản gốc hóa đơn, chứng từ chứng minh nguồn gốc nhập khẩu hợp pháp của lô hàng và hóa đơn xuất bán đến Chi cục Hải quan hoặc Đội Quản lý thị trường phụ trách địa bàn đó để kiểm tra và xác nhận. Cùng với đó, cần sửa đổi Điều 17 của Nghị định 154/2005/NĐ-CP hướng dẫn Luật Hải quan về thủ tục Hải quan, kiểm tra, giám sát Hải quan theo hướng toàn bộ hàng hóa khi nhập khẩu vào Việt Nam đều phải thực hiện các thủ tục Hải quan (kiểm tra, cho thông quan) tại các Chi cục Hải quan cửa khẩu biên giới, trừ một số mặt hàng được nêu tại điểm a, b, d, đ, e, g khoản 3, Điều 18 Nghị định 154.
 
Đặc biệt, đề nghị hạ thấp mức trị giá hàng hóa, tang vật vi phạm để xử lý trách nhiệm hình sự đối với các hành vi buôn lậu, vận chuyển hàng lậu, sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng, vi phạm sở hữu trí tuệ… và bổ sung chế tài xử lý trách nhiệm hình sự đối với hành vi kinh doanh hàng hóa nhập lậu thay vì chỉ xử phạt hành chính, thì mới đủ sức răn đe.
 
(T.Hương)