Nhiều thách thức đặt ra cho nền kinh tế Việt Nam năm 2014

Kinh tế vĩ mô năm 2013 đã từng bước ổn định. Tăng trưởng và sản xuất đã có sự chuyển biến tích cực, đi lên về cuối năm. Tuy nhiên, tăng trưởng vẫn còn ở mức thấp, cân đối ngân sách còn nhiều thách thức và các doanh nghiệp vẫn chưa thực sự thoát khỏi khó khăn là những vấn đề tiếp tục đặt ra cho năm 2014.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Đây là nhận định của Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTC) trong Báo cáo tình hình kinh tế Việt Nam 11 tháng năm 2013 vừa được công bố ngày hôm nay, 4/12.

Tái lập niềm tin của nhà đầu tư

Theo UBGSTC, việc lạm phát tiếp tục ổn định với chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 11 tăng chậm lại, ở mức 0,34% so với tháng 10, tăng 5,5% so với tháng 12/2012 và tăng 5,78% so với cùng kỳ năm 2012. Như vậy, tốc độ lạm phát (so với cùng kỳ) trong tháng 11/2013 đã chậm lại ở mức thấp thứ 2 kể từ năm 2003 trở lại đây (chỉ sau năm 2009). Nguyên nhân chủ yếu là do tổng cầu của nền kinh tế vẫn còn yếu, khiến cho mức tăng giá của các tháng cuối năm nay tăng thấp, trái với thông lệ thường thấy trong 10 năm gần đây. Lạm phát năm 2013 bị chi phối chủ yếu bởi yếu tố chi phí đẩy gồm điều chỉnh giá dịch vụ công và giá các nhóm hàng cơ bản do Nhà nước quản lý. Dự báo cả năm, lạm phát sẽ không quá 6,3%, mục tiêu kiềm chế lạm phát thấp hơn so với năm ngoái là hoàn toàn khả thi.

Cán cân thanh toán quốc tế năm 2013 dự báo thặng dư khoảng 1,5-2 tỷ USD, trong đó, cán cân vãng lai thặng dư khoảng 6% GDP trong nửa đầu năm. Đây là năm thứ 2 liên tiếp thặng dư sau nhiều năm tăng trưởng âm, nhờ vào thặng dư thương mại và kiều hối đạt khá. Vốn FDI tăng mạnh thể hiện việc tái lập niềm tin trong trung hạn của các nhà đầu tư nước ngoài đối với kinh tế Việt Nam. Điều này góp phần gia tăng nguồn cung ngoại tệ, tạo điều kiện tăng dự trữ ngoại hối và ổn định tỷ giá.

Tỷ giá ổn định, mặt bằng lãi suất giảm mạnh so với năm ngoái. Tình trạng nợ xấu có sự cải thiện hơn nhờ nỗ lực tái cơ cấu nợ và xử lý nợ xấu từ phía các ngân hàng thương mại và Ngân hàng Nhà nước. Bên cạnh đó, cơ cấu tín dụng tích cực hơn khi tập trung phục vụ cho sản xuất và hỗ trợ thị trường. Cụ thể là một số lĩnh vực ưu tiên cấp tín dụng có mức tăng cao hơn so với mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế. Tính đến hết cuối tháng 9/2013, tín dụng dành cho nông nghiệp, nông thôn tăng và doanh nghiệp ứng dụng công nghệ tăng khoảng 13-15%. Tín dụng tiêu dùng và bất động sản cũng tăng cao hơn mức tăng của nền kinh tế phù hợp với định hướng chính sách hỗ trợ thị trường của Chính phủ. Nhờ đó đã giúp tháo gỡ khó khăn về chi phí tài chính cho doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận vốn vay dễ dàng hơn.

Cũng theo Cơ quan giám sát, sản xuất công nghiệp (IIP) có dấu hiệu cải thiện vào cuối năm nhờ xuất khẩu tăng khá. Chỉ số IIP (so với cùng kỳ) tăng dần qua các quý, tính chung 11 tháng đầu năm, IIP tăng 5,6%. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có mức phục hồi khá hơn mặt bằng chung ở mức 7,1%, cao hơn đáng kể so với cùng kỳ năm trước.

Chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 10 cũng đạt trên 50 điểm liên tiếp trong 2 tháng sau khi dưới 50 điểm trong 4 tháng trước đó, chủ yếu nhờ lượng đơn hàng xuất khẩu mới tăng. Theo ước tính của Tổng cục Thống kê, kim ngạch xuất khẩu 11 tháng đầu năm tăng 16,2% so với cùng kỳ. Xuất khẩu của khu vực kinh tế trong nước cũng có chuyển tích cực hơn8. Sản xuất cải thiện đã làm hoạt động nhập khẩu của doanh nghiệp trong nước đã tăng khá trở lại, đặc biệt là hoạt động nhập khẩu máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất.

Nhờ đó mà tình hình doanh nghiệp cũng bớt khó khăn hơn với số lượng doanh nghiệp đăng ký mới và tạm ngừng hoạt động đã quay trở lại hoạt động có xu hướng tăng dần qua từng tháng11 (so với cùng kỳ) và số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động đã tăng thấp hơn so với các tháng trước12.

Tiếp tục hỗ trợ thị trường

Mặc dù sản xuất được cải thiện nhưng nền kinh tế vẫn còn khó khăn khi  sức mua của người dân chậm cải thiện, thể hiện qua mức hàng hóa bán lẻ và dịch vụ tiêu dùng cũng như vận chuyển hàng hóa tăng chậm hơn cùng kì năm trước.  Sản xuất và doanh nghiệp vẫn chưa hết khó khăn với mức tăng chỉ số IIP cả năm 2013 dự kiến chỉ bằng năm 2012 (5.8%) và vẫn thấp hơn so với các năm 2011 và 2010. Số lượng doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động vẫn tăng so với cùng kỳ (11 tháng tăng 8,4%) và tổng số vốn đăng ký thành lập mới của doanh nghiệp vẫn giảm (11 tháng giảm 15,4%). Trong hoạt động xuất khẩu, doanh nghiệp trong nước tăng trưởng thấp hơn nhiều (tăng 3,6%) so với khu vực FDI (23,5%).

Tín dụng cho nền kinh tế tăng chậm trong bối cảnh tổng cầu thấp. Tính đến 31/10/2013, tăng trưởng tín dụng nền kinh tế mới đạt 7,18%, mới đạt xấp xỉ 60% kế hoạch cả năm. Tín dụng một số lĩnh vực ưu tiên vẫn tăng thấp hơn so với tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế: tín dụng công nghiệp phụ trợ và tín dụng cho xuất khẩu tăng thấp và tín dụng dành cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng trưởng âm. Đặc biệt, thu ngân sách thấp hơn kế hoạch. Lũy kế đến tháng 11 thu NSNN ước đạt 701.760 tỷ đồng, cao hơn so với cùng kỳ năm trước nhưng mới đạt 86% dự toán. Dự kiến cả năm 2013, thu NSNN đạt 97% dự toán năm; đưa mức bội chi NSNN lên mức 5,3% GDP, cao hơn 0,5% GDP so với kế hoạch. Điều này đã ảnh hưởng đến cân đối ngân sách trung hạn.

Theo khuyến nghị của UBGSTC, trong điều kiện lạm phát được kiểm soát, chính sách điều hành cần tiếp tục chủ trương tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường như đã đề ra trong Nghị quyết 02, để duy trì tăng trưởng ở mức hợp lý. Trong trung hạn, việc tái cơ cấu nền kinh tế gắn với việc đổi mới mô hình tăng trưởng là các nhân tố quan trọng cho phát triển của nền kinh tế nước ta.  Góp phần thực hiện các mục tiêu này, vấn đề cân đối NSNN sẽ là vấn đề cần xử lý từ nay đến 2015. Đối với thu NSNN, bên cạnh công tác chống thất thu thuế và chuyển giá cần có các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho DN, đặc biệt là DN vừa và nhỏ để tạo nguồn thu bền vững. Đối với chi NSNN, cần rà soát nhiệm vụ chi theo thứ tự ưu tiên, tiết kiệm cho quản lý hành chính và hạn chế chính sách, chế độ làm tăng chi. Cụ thể là cần xây dựng khuôn khổ ngân sách trung hạn (trong 3 năm) để vừa đảm bảo kỷ luật tài khóa, vừa tăng tính linh hoạt cho chính sách tài khóa.

Về chính sách lãi suất - tín dụng, cần tiếp tục triển khai các biện pháp để đẩy mạnh tín dụng cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ khả năng hấp thụ và tiếp cận vốn tín dụng của các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đồng thời triển khai tích cực các chương trình bảo lãnh tín dụng đối với đối tượng này, phấn đấu đạt mức tăng trưởng tín dụng 14-15% trong 2014. Đồng thời, đẩy nhanh và mở rộng quy mô xử lý nợ xấu của VAMC thông qua sự hỗ trợ và tham gia của nhà đầu tư nước ngoài, nhanh chóng tháo gỡ các vướng mắc về cơ chế chính sách xử lý các tài sản đảm bảo tiền vay để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý nợ xấu.

Hơn nữa, chính sách tỷ giá cần tiếp tục ổn định để góp phần vào việc ổn định lạm phát. Tuy nhiên, trong năm 2014, chính sách tỷ giá cũng cần linh hoạt hơn nữa nhằm hỗ trợ năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam. Cụ thể là, nên xác lập một ngang giá tiền tệ mới trong bối cảnh khủng hoảng tài chính tiền tệ thế giới 2007-2008 đã xác lập một mặt bằng giá mới.

(T.Hương)