Nợ công của Việt Nam: Rủi ro vỡ nợ thấp?

Các chỉ tiêu về giới hạn nợ công của Việt Nam vẫn trong giới hạn cho phép, quan trọng là sử dụng hiệu quả vốn vay.

Việt Nam có tủi ro vỡ nợ công thấp?Việt Nam có tủi ro vỡ nợ công thấp?
Vẫn trong giới hạn cho phép
 
Tại Hội thảo “Xác định phạm vi nợ công, trần nợ công an toàn của Việt Nam giai đoạn 2014 - 2020” do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức ngày 13/11, tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đào Quang Thu cho biết: Theo Luật Quản lý nợ công, nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương. Nghị quyết số 10/2013/QH13 của Quốc hội quy định đến năm 2015 nợ công không quá 65% GDP. Theo báo cáo của Bộ Tài chính, nợ công đến cuối năm 2014 khoảng 60,3% GDP và dự kiến đỉnh nợ sẽ vào năm 2016 với khoảng 64,9% GDP. Tuy nợ công ở Việt Nam so với các nước trong khu vực thuộc loại cao, nhưng so với thế giới khá thấp, chưa đạt mức trung bình và rất thấp so với các nước phát triển.
 
Theo TS. Nguyễn Thạc Hoát, Trưởng khoa Tài chính Tiền tệ - Học Viện Chính sách và Phát triển - Bộ KH&ĐT, nợ công của VN hiện nay có mức độ “rủi ro vỡ nợ thấp” (low risk of debt distress) nhưng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro khác nên triển vọng là “không bền vững”. Hiện tại không có bộ tiêu chuẩn chung về mức ngưỡng an toàn nợ công để áp dụng cho tất cả các nước. Ngân hàng Thế giới (WB) hay Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng chỉ đưa ra một số chỉ tiêu đánh giá mức độ rủi ro của nợ nước ngoài chứ không phải toàn bộ nợ công. Khi tỷ lệ nợ công/GDP ≤ 68% thì nợ công có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và tính bền vững của chính sách tài khóa. Khi tỉ lệ này lớn hơn 68% thì nợ công sẽ làm giảm động lực đầu tư phát triển, kìm hãm tăng trưởng kinh tế và làm suy giảm khả năng trả nợ và mức độ an toàn của nợ công.  
 
Đáng chú ý, tuy đầu tư trực tiếp từ NSNN có xu hướng giảm song đầu tư công đã có xu hướng mở rộng quy mô phát hành trái phiếu Chính phủ mà bản chất của trái phiếu Chính phủ chính là bội chi NSNN và nằm trong tổng nợ công.

Trong cơ cấu nợ công, nợ Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đến là nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Tính đến cuối năm 2013, nợ Chính phủ chiếm 78,1%, nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm 20,4% và nợ chính quyền địa phương là 1,5%.

Nợ Chính phủ bảo lãnh bao gồm nợ bảo lãnh vay trong nước và bảo lãnh vay nước ngoài cho DNNN tăng lên từ 4% tổng dư nợ công năm 2001 lên 20,4% năm 2013. Trong đó, nợ bảo lãnh vay trong nước chiếm 52,58%, bằng 5,8% GDP năm 2013, tập trung cho các đối tượng như NHPT Việt Nam, NH Chính sách xã hội Việt Nam, bảo lãnh vay từ các NHTM trong nước cho các dự án trọng điểm. Còn nợ bảo lãnh vay nước ngoài chiếm 47,42%, bằng 5,2% GDP năm 2013, tập trung chủ yếu vào ngành điện, hàng không, xi măng, dầu khí, giấy và các chương trình, dự án ưu tiên được xét cấp bảo lãnh.

Nợ công là do đầu tư công kém hiệu quả

Điều đáng chú ý là toàn bộ nợ công của Việt Nam chủ yếu tập trung vào đầu tư phát triển thay vì chi tiêu như thông lệ quốc tế. Do đó, việc tăng đầu tư công gắn với quản lý sử dụng kém hiệu quả là nguyên nhân chính làm tăng nợ Chính phủ. Mặt khác, tốc độ tăng GDP thấp hơn dự kiến, quy mô GDP tăng chậm, quy mô vay để đầu tư tăng nhanh, nhất là trái phiếu chính phủ... đã khiến nợ công tăng nhanh thời gian qua.

Đưa ra các khuyến nghị, TS Nguyễn Thạc Hoát cho rằng: Ngưỡng nợ công tối ưu và trần nợ công an toàn chỉ là điều kiện cần để đảm bảo an toàn của nợ công, chất lượng nợ là điều kiện đủ để đảm bao mức độ an toàn của nợ công. Cần đảm bảo sử dụng nợ công hiệu quả để phát huy vai trò đòn bẩy tài chính cho tăng trưởng, hạn chế được gánh nặng nợ công trong những năm tiếp theo. Cần phải chủ động dự phòng đối với các khoản nợ bất khả kháng, bao gồm nợ ngầm định và nợ bất thường nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia và an toàn nợ công.
 
Có cùng quan điểm, TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng, các kinh nghiệm bài học về quản lý nợ công có nhiều bài học đắt giá, vấn đề không phải tỷ lệ nào mà sử dụng vốn nợ công thế nào có hiệu quả không. Rủi ro nợ công còn bị ảnh hưởng vấn đề khác đó là nợ xấu ngân hàng. Do đó nếu xử lý triệt để được nợ xấu giúp nền kinh tế tăng trưởng cao trở lại thì nợ công không đáng lo.
 
"An toàn nợ công không chỉ phụ thuộc vào mấy con số mà thế giới căn cứ vào các chỉ số cảnh báo nợ công. Về thực chất, cần đánh giá hiệu quả sử dụng nợ công đem lại cho nền kinh tế như thế nào, và cụ thể ở đây là tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nguồn thu tài chính tốt hơn sẽ là điều kiện để trả nợ công. Rốt cục để giải quyết vấn đề này, cốt lõi là phải quay lại đầu tư công hiệu quả, quản lý dòng tiền, quản lý nợ xấu, quản lý thanh khoản, cần sự phối hợp hiệu quả giữa Bộ Tài chính, NHNN" - TS Trịnh Quang Anh khuyến nghị...
 
(T.Hương)