Phát triển bền vững thích ứng tương lai như thế nào?

(eFinance Online) - Sáng ngày 19/01/2022, tại TP. Hà Nội, Thời báo Tài chính Việt Nam đã phối hợp cùng các đơn vị liên quan tổ chức Diễn đàn kinh tế - tài chính trực tuyến: Phát triển bền vững, thích ứng tương lai.
Ảnh toàn cảnh. Quang Minh.Ảnh toàn cảnh. Quang Minh.

Đại dịch Covid-19 đã gây ra rất nhiều khó khăn cho phát triển kinh tế - xã hội và hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp. Trung ương, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quyết liệt triển khai nhiều giải pháp linh hoạt vừa phòng chống dịch bệnh, vừa duy trì phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội. Cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân nêu cao tinh thần chia sẻ đồng hành cùng đất nước, biến thách thức thành cơ hội, tạo động lực cho phát triển và tái khởi động nền kinh tế đất nước. 

Tại kỳ họp Quốc hội bất thường tháng 1/2022, Quốc hội đã chính thức thông qua Nghị quyết về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội với quy mô lớn chưa từng thấy, trong đó, riêng gói tài khóa lên đến 291.000 tỷ đồng (bao gồm cả tiền giảm thuế giá trị gia tăng - GTGT).

Chính phủ cũng ban hành Nghị quyết 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và Dự toán ngân sách nhà nước năm 2022, với chủ đề điều hành năm 2022 là “Đoàn kết kỷ cương, chủ động thích ứng, an toàn hiệu quả, phục hồi phát triển”.

Thực hiện chỉ đạo của Trung ương về phát triển kinh tế - xã hội, Bộ Tài chính đã và đang tích cực triển khai các giải pháp tài khoá ứng phó với đại dịch Covid -19. Hàng loạt cơ chế, chính sách được Bộ Tài chính chủ động tham mưu trình cấp có thẩm quyền quyết định nhằm tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, tạo động lực cho phục hồi và phát triển, tái khởi động nền kinh tế đất nước. 

Nhằm kịp thời tuyên truyền tổ chức thực hiện hiệu quả Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế đất nước, tạo diễn đàn giới thiệu, phân tích về các cơ chế, chính sách tài chính mới ban hành, được sự đồng ý của Bộ Tài chính, Thời báo Tài chính Việt Nam tổ chức Chương trình Diễn đàn kinh tế - tài chính trực tuyến với chủ đề: “Phát triển bền vững, thích ứng tương lai”. Đây là diễn đàn đầu tiên, mở đầu cho chuỗi diễn đàn về kinh tế - tài chính sẽ được Thời báo Tài chính Việt Nam thực hiện trong năm 2022.

Diễn đàn còn có sự tham gia thảo luận sôi nổi của GS.TS Hoàng Văn Cường – Đại biểu Quốc hội – Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế Quốc dân; chuyên gia TS Vũ Đình Ánh; chuyên gia kinh tế Lê Duy Bình – Giám đốc điều hành Economica Vietnam…

Ban Biên tâp eFinance.vn xin giới thiệu toàn bộ nội dung cuộc thảo luận tại diễn đàn.

Câu hỏi 1: Là năm thứ 2 “sống chung” với Covid-19, năm 2021 là một năm đầy khó khăn, thử thách với đất nước. Những hậu quả nặng nề do hai đợt dịch Covid-19 trong năm 2020 chưa kịp khắc phục thì chúng ta lại gặp liên tiếp thêm hai đợt dịch khiến những khó khăn càng thêm chồng chất. Thưa ông Hoàng Văn Cường, bối cảnh này đã đặt lên vai nền kinh tế Việt Nam những thách thức gì?

Ông Hoàng Văn Cường: Ở Việt Nam, khi làn sóng dịch ập đến, chúng ta đang ở trạng thái Zero Vắc xin, thời kỳ đó chúng ta chưa có liều vắc xin nào để tiêm cho người dân cũng như các lực lượng tuyến đầu. Vì vậy, buộc lòng chúng ta phải thực hiện cách ly xã hội để đảm bảo an toàn cho sức khỏe, tính mạng, đời sống nhân dân và công tác phòng, chống dịch.

Chưa phải là cách ly toàn quốc mà mới chỉ cách ly 19 tỉnh thành thì nền kinh tế của chúng ta, trải qua 2 năm ứng phó với dịch, đã không còn đủ sức chống trọi, “rơi tự do” từ mức 6,61% ở quý 2 xuống -6,1% ở quý 3, điều đó chứng tỏ nền kinh tế nói chung và DN nói riêng hết sức khó khăn và kiệt quệ.

Hiện tượng các dòng người đổ về quê do không đủ sức duy trì cuộc sống cũng ảnh hưởng rất lớn, không chỉ ảnh hưởng đến khả năng phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh các khu công nghiệp, các tỉnh, thành phố đó mà còn ảnh hưởng lâu dài về phân bố, cân đối nguồn nhân lực.

Khi chúng ta đóng cửa một số trung tâm công nghiệp, sản xuất kinh doanh trong bối cảnh phân bố của chuỗi cung ứng kinh tế thế cũng có ảnh hưởng đã dẫn đến nguy cơ tác động đến hoạt động đầu tư nước ngoài do các đối tác dự tính chuyển các hợp đồng, đơn hàng sang các nước khác. Đây là một thách thức với Việt Nam để không bị tuột ra khỏi chuỗi cung ứng của thế giới.

Trong bối cảnh đầy rẫy khó khăn như thế nhưng chúng ta đã có những phản ứng rất nhanh nhạy. Như từ Zero vắc xin vào tháng 4 thì nay Việt Nam đã nằm trong nhóm 10 quốc gia có độ bao phủ vắc xin rộng nhất. Ngoài ra, hiện nay, mỗi ngày vẫn có hàng chục nghìn người nhiễm mới nhưng các hoạt động kinh tế - xã hội vẫn tương đối bình thường.
Kinh tế Việt Nam sau thời gian giãn cách xã hội, chuyển sang chiến lược thích nghi theo NQ 128 thì ngay lập tức nền kinh tế đã phục hồi trở lại, từ tăng trưởng âm 6,17% đã +2,5%. Điều này chứng tỏ chúng ta có sự vươn lên rất nhanh.

Kinh tế cả năm đạt 2,58%. So với thế giới chúng ta có thể chậm hơn (5,96%), nhưng con số tăng trưởng 2,58% khó khăn hơn rất nhiều tình hình chung, bởi lẽ năm 2020 thế giới đang âm 4-5% còn Việt Nam +2,9%. Nên từ mốc dương của 2020 tiếp tục dương 2021 sẽ khó hơn.

Tổng kết năm 2021, dù khó khăn nhưng vẫn đảm bảo được thu ngân sách khá đảm bảo, thu đủ chi, không để thâm hụt quá lớn, làm đủ ăn, sản xuất nông nghiệp có 1 năm thành công, được mùa được giá; xuất nhập khẩu vẫn tăng trưởng 22%; kinh tế vĩ mô ổn định; các chỉ số đều được kiểm soát trong giới hạn. Qua đó củng cố niềm tin của các nhà đầu tư với Việt Nam, nguồn đầu tư nước ngoài vẫn tăng. Đời sống kinh tế - xã hội, người dân ổn định.
Chúng ta đã thực hiện được chiến lược “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Câu hỏi 2: Thưa ông Vũ Đình Ánh, năm  2021 - một năm đầy biến động vừa khép lại với nhiều sự kiện và dấu ấn đáng nhớ. Trong điều kiện vô cùng khó khăn và nhiều thách thức, dưới sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt, kịp thời của Chính phủ, sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, chúng ta đã chung tay, chung sức vững vàng vượt qua sóng gió, thực hiện thắng lợi các mục tiêu cơ bản của năm 2021. Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát; thu ngân sách nhà nước vượt 16,4% dự toán… Theo ông Vũ Đình Ánh, điều gì đã tạo nên dấu ấn của năm 2021?

Ông Vũ Đình Ánh: Năm 2021 có thể nói là chưa bao giờ nền kinh tế của chúng ta phải chịu một cú sốc nặng như vậy. Chúng ta phải đối mặt với những điều chưa có tiền lệ.

Bên cạnh đó, những khó khăn đã kéo dài suốt 2 năm với bức tranh khá ngược nhau. Nếu năm 2020, Việt Nam là một trong số hiếm hoi đất nước kiểm soát thành công dịch bệnh với kể cả số ca nhiễm cũng như số người tử vong. Năm 2021, nhất là từ khi làn sóng dịch thứ 4 thì tất cả những gì được phản ánh trên đài, trên báo ở nước khác lại xảy ra ở ngay Việt Nam, nhất là 19 tỉnh, thành phía Nam.

Nền kinh tế theo đó phải chịu tác động rất mạnh, kể cả yếu tố đầu vào và đầu ra, tác động đến chuỗi cung ứng nguyên, nhiên, vật liệu cũng như tiêu thụ sản phẩm.

Tuy nhiên, đúng như ông Cường đã nói, trụ cột kinh tế của chúng ta là nguồn cung cho thị trường thế giới khá là tốt, tuy vẫn còn yếu tố bất định. Ta tận dụng được cơ hội đó để vượt qua được khó khăn để đạt được thành tích XK ấn tượng trong năm 2021.

Ở góc độ khác, trong nước, mặc dù gián đoạn nguồn cung nhưng tổng cầu trong nước năm 2021 lại giảm. Đây là yếu tố quan trọng giúp chúng ta ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát trong bối cảnh dịch bệnh. Nhiều mặt hàng thiết yếu không có biến động lớn về giá dù bị gián đoạn bởi cung ứng hay tác động bởi dịch bệnh. Việc duy trì lạm phát dưới 2% trên nền tảng giá cả ổn định là một thành công của chúng ta.

Đặc biệt, yếu tố tiền tệ. Dù chúng ta áp dụng các gói hỗ trợ, an sinh xã hội trị giá hàng chục nghìn tỷ động. Chúng ta cũng có những động thái để thúc đẩy đầu tư, đặc biệt là đầu tư công. Chúng ta cũng duy trì tổng tín dụng suốt năm 2021 ở mức xấp xỉ 13,95%. Chúng ta cũng đảm bảo duy trì tăng tổng phương tiện thanh toán của chúng ta đảm bảo nền kinh tế vượt qua được dịch bệnh và phục hồi sau khi dịch được kiểm soát.

Đây là những yếu tố quan trọng. Một trong những điều ta đã thực hiện trong năm 2021 là giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ rất lớn cho DN, điều này cũng giúp giữ ổn định kinh tế vĩ mô. Đây là một thành tích nổi bật.

Chính sách tài khóa, thu chi ngân sách, việc kiểm soát nợ công, kiềm chế thâm hụt ngân sách trong bối cảnh phải bố trí nhiều khoản chi quy mô chưa từng có liên qan đến phòng, chống dịch trên cả nước trong thời gian dài. Nỗ lực đó góp phần rất lớn trong ổn định kinh tế vĩ mô.

Bên cạnh đó, do XK có tốc độ tăng tốt đã tác động tích cực đến cán cân thương mại, cán cân tài khoản vãng lai, cán cân thanh toán.

Dự trữ ngoại hối năm 2021 lên tới mức kỷ lục là trên 100 tỷ USD. Đặc biệt, tỷ giá hối đoái, không những đồng Việt Nam không mất giá mà còn lên giá khoảng 1% so với USD.

Bên cạnh những thành tích như GS Cường đã nói thì có 1 yếu tố tôi đặc biệt quan tâm là tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong năm 2021 vẫn tiếp tục tăng so với năm 2020. Nếu khu vực kinh tế nhà nước và khu vực FDI có tốc độ tăng vốn giảm so 2020 thì khu vực kinh tế ngoài nhà nước vẫn tăng và bù đắp được phần giảm của 2 khu vực kia. Các nhà đầu tư nước ngoài vẫn có cam kết đầu tư với số vốn cam kết tăng hơn so với năm 2020. 

Như vậy, nền kinh tế Việt Nam vẫn giành được niềm tin của nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Trên nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định như vậy, chúng ta sẽ sớm phục hồi và lấy lại đà tăng trưởng mà ta đã đạt được trong giai đoạn trước khi dịch bệnh diễn ra.

Câu hỏi 3: Vượt qua những khó khăn chưa từng có tiền lệ, Việt Nam đã giành được nhiều dấu ấn tích cực đúng như ông Vũ Đình Ánh vừa phân tích. Những thách thức cũng như rủi ro vẫn còn tiềm ẩn. Thưa ông Lê Duy Bình, ông nghĩ rằng điều gì đang chờ đợi Việt Nam phía trước, đặc biệt là trong năm 2022 này?

Ông Lê Duy Bình: Đầu năm 2021, cộng đồng quốc tế đánh giá rất cao tốc độ tăng trưởng của Việt Nam trong năm qua và coi Việt Nam là ngôi sao sáng của khu vực Đông Nam Á, thậm chí là Đông Á về tốc độ tăng trưởng và khả năng kiềm chế dịch bệnh.

Tuy nhiên, những quý tiếp theo chúng ta đã phải chứng kiến những thay đổi về dịch bệnh, từ đó kéo theo thay đổi về tốc độ tăng trưởng.

Những thay đổi đó đã đưa chúng ta vào một trạng thái rất hồi hộp khi bước sang năm 2022. Kịch bản của năm 2022 sẽ như thế nào? Chúng ta có thể chờ đợi rất nhiều những cơ hội vào năm 2022 nhưng cùng với đó cũng là rất nhiều thách thức.

Nói về cơ hội, nhiều cơ hội cũng đã được hiện thực hóa trong thời gian qua, ví dụ như việc đáp ứng nhu cầu của thị trường quốc tế thể hiện qua con số 660 tỷ USD XNK trong năm 2021. Cùng với đó là khả năng thích ứng của DN, trong bối cảnh khó khăn nhưng vẫn có thể đảm bảo sản xuất, cung ứng hàng hóa dịch vụ đáp ứng được thị trường.

Điều đó cho ta nhìn thấy niềm hi vọng cho năm 2022 là nhu cầu của thị trường quốc tế đối với hàng hóa và dịch vụ của Việt Nam.

Sự phục hồi của một số bạn hàng lớn của Việt Nam như Mỹ, châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc,…cũng sẽ tạo ra nhu cầu rất lớn cho hàng hóa dịch vụ của Việt Nam. Khả năng thích ứng, tinh thần doanh nhân của doanh nghiệp Việt Nam, tinh thần khởi nghiệp của người dân Việt Nam cũng đã được khẳng định thông qua những thống kê về hoạt động của DN cả về số lượng lẫn số vốn,… Như vậy, chúng ta hoàn toàn có thể chờ đợi vào sự nỗ lực của DN để góp phần cho sự phát triển kinh tế.

Chúng ta cũng có thể kỳ vọng vào sự phục hồi đã được chứng minh trong năm 2021 của dòng vốn đầu tư FDI. Các nhà đầu tư nước ngoài dường như đã tiếp tục đặt niềm tin vào thị trường Việt Nam thông qua việc nhìn vào những nỗ lực ổn định kinh tế vĩ mô, quyết tâm của Chính phủ trong cải cách môi trường kinh doanh, môi trường đầu tư. Đó là những niềm hi vọng, những cơ hội mà chúng ta có thể trông chờ trong năm 2022.

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng kỳ vọng rằng những yếu tố thuận lợi hơn của môi trường đầu tư trong nước cũng sẽ tiếp tục kích thích đầu tư tư nhân. Ta cũng có thể kỳ vọng vào đầu tư công giai đoạn mới bắt đầu tăng mạnh khu khó khăn của dịch bệnh đã qua đi. Nhất là chi tiêu công cũng hi vọng được đẩy mạnh. Từ đó sẽ góp phần vào tăng trưởng kinh tế năm 2022.

Không thể không kể đến gói kích thích kinh tế Qh mới thông qua, cộng thêm những tác động đáng kể khi gói kích ,hích đi vào cuộc sống sẽ tác động rất tích cực đến kinh tế 2022 và những năm tiếp theo.

Đi kèm với đó dĩ nhiên vẫn sẽ có những khó khăn, thách thức, trở ngại. Như môi trường kinh tế toàn cầu còn nhiều thách thức, căng thẳng thương mại giữa các quốc gia, lạm phát tại một số nước tăng cao,…sẽ tác động khá nhiều đến Việt Nam trực tiếp, gián tiếp khiến chúng ta bị ảnh hưởng đến những cân đối lớn của nền kinh tế. 

Rồi những cách thức chúng ta thực hiện các gói kích thích mới, làm sao đúng liều lượng, hiệu quả, giám sát chặt chẽ nhất để đảm bảo không ảnh hưởng đến cân đối vĩ mô, đặc biệt là lạm phát.

Những rủi ro đó là không thể loại trừ và chúng ta cần dự trù để có giải pháp ứng phó kịp thời.

Năm 2022 là một năm rất quan trọng. Năm 2021 là năm bản lề đê thực hiện KH phát triển kTXH 5 năm nhưng chúng ta đã lỡ 1 cơ hội do dịch bệnh phát sinh. Như vậy, trọng trách của năm 2021 đã dồn lên năm 2022. Với vai trò như vậy, năm 2022 chúng ta sẽ phải thực hiện rất nhiều các hoạt động về cải cách kinh tế, cải cách môi trường kinh doanh, đặt nền móng cho sự tăng trưởng của cả giai đoạn, thậm chí xa hơn nữa, chứ không chỉ là giải bài toán phát triển kinh tế của riêng năm 2022. Bởi vậy, những quyết sách của chúng ta, những giải pháp về kinh tế, tài chính, tiền tệ,…không chỉ hướng tới tăng trưởng của 2022 mà phải hướng đến đặt nền móng tăng trưởng đến 2025, 2030 thậm chí xa hơn nữa.

Năm 2022 ta cũng chờ đợi những thay đổi về mặt chính sách để chúng ta tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa mô hình tăng trưởng nhất là sau Hội nghị COP 26 vừa qua thì mục tiêu tăng trưởng xanh đối với Việt Nam đã trở nên rõ ràng hơn bao giờ hết. Mục tiêu này chắc chắn cũng sẽ có tác động đến mô hình tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian tới. Do đó, năm 2022 chúng ta sẽ đi những bước đầu tiên về mặt chính sách, xây dựng chính sách, hành động của Chính phủ của DN, người dân để thực hiện các mục tiêu này.

Năm 2021 cũng đã phản ánh những vấn đề về lao động, con người, xã hội…do vậy, năm 2022 phải nhìn lại những điểm chúng ta cần cải thiện, tình trạng lao động tự do khó tiếp cận gói hỗ trợ,… Đó là những vấn đề chúng ta cần đề câp trong năm 2022.

Tóm lại, năm 2022 đóng vai trò rất quan trọng. Là năm chúng ta phải đặt ra những mục tiêu lớn, phải nhận diện cụ thể những thách thức để có giải pháp vượt qua chính mình, vượt qua khó khăn, không chỉ có tốc độ tăng trưởng tốt, bền vững trong năm nay mà cả giai đoạn tới.

Câu hỏi 4: Thưa ông Vũ Đình Ánh, như trong phóng sự đã nêu, gói chính sách vừa được thông qua có quy mô rất lớn, đặc biệt, gói tài khóa lên tới 291 nghìn tỷ đồng với nhiều hạng mục triển khai rất cụ thể. Ông đánh giá như thế nào về bản Nghị quyết này? Những chính sách này có gì khác so với những gói hỗ trợ Chính phủ đã đưa ra trước đây?

Ông Vũ Đình Ánh: Gói hỗ trợ lần này với quy mô tổng thể là 350 nghìn tỷ, chúng ta đã chỉ đích danh 2 chính sách chủ đạo, quyết định sẽ có tác động lớn đối với việc phục hồi, phát triển nền kinh tế. Gói này không gọi là gói kích cầu hay gói kích thích kinh tế mà gọi là gói hỗ trợ phục hồi – phát triển kinh tế và cả xã hội. Đó là ấn tượng đầu tiên. 

Cái thứ hai, với 2 công cụ của chính sách kinh tế ví mô quan trọng hàng đầu là tài khóa và tiền tệ thì lần này chúng ta đã thấy chính sách tài khóa được xây dựng như trụ cột.

Nội dung của 2 mảng chính sách đã được thiết kế có sự phối hợp đồng bộ, đây là điều không dễ được nhìn thấy trong những lần thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô nói chung cũng như khi thực hiện các gói hỗ trợ nói riêng.

Một điểm nổi bật nữa là nhấn mạnh vai trò của chính sách tài khóa, khác hẳn so với tất cả những hỗ trợ về mặt thuế, thu ngân sách chúng ta đã triển khai. Nếu trước đây, chúng ta lấy trụ cột, chủ chốt là giãn, hoãn – tạm thời chưa thu vào NSNN – thì lần này chúng ta trực diện đặt vấn đề và quyết tâm giảm các khoản thu vào NSNN. Yếu tố quan trọng hơn cả là trước đây chúng ta cũng có các chính sách miễn, giảm thuế, phí, các nguồn động viên nhưng chỉ tập trung vào thuế trực thu như thu nhập DN đối với các DN khó khăn, khủng hoảng. Còn lần này, giảm thẳng vào thuế gián thu, ở đây là thuế GTGT. Thuế suất GTGT phổ thông hiện nay là 10%, khi ta giảm chỉ 2% thôi nhưng cũng có tác động đến toàn bộ giao dịch trên thị trường. Như vậy, người bán có điều kiện không phải tăng giá khi mà sức ép về chi phí tăng cao, thách thức còn nhiều. Khả năng tiêu thụ theo đó cũng sẽ được hỗ trợ mạnh mẽ và thực tế với chính sách này. Với người tiêu dùng, ta đang bị sức ép bởi thu nhập, việc làm bị tác động mạnh bởi dịch bệnh khi 24,7 triệu người bị ảnh hưởng, vậy việc giảm thuế GTGT, người tiêu dùng sẽ trực tiếp tiết kiệm được 2% chi tiêu, từ đó có niềm tin, có điều kiện tốt hơn để tiếp tục tiêu dùng, phục vụ đời sống.

Một yếu tố nữa là việc giảm thuế GTGT sẽ giúp kiềm chế, kiểm soát việc tăng chỉ số giá tiêu dùng khi tiêu dùng trong nước có triển vọng tốt hơn và phục hồi. Như vậy, việc giảm thuế 2% sẽ giúp đạt 2 mục tiêu: 1 là  hỗ trợ tăng trưởng kinh tế từ phía sản xuất kinh doanh, từ phía tiêu dùng; 2 là ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát.

Như vậy, có thể nói, đây là một lựa chọn chưa từng có trong việc hỗ trợ thông qua việc giảm sắc thuế phổ biến nhất, tác động rộng rãi nhất, rõ ràng nhất đến thị trường. 

Trong các quy định chính sách hỗ trợ cũng có một điểm đặc biệt nữa là gói hỗ trợ lãi suất 2%. Đây là một cách tiếp cận mới mẻ đối với chúng ta. Như trước đây, ta sẽ xác định đối tượng hỗ trợ là ai, nếu không thuộc đối tượng thì không được hưởng nhưng lần này tư duy hoàn toàn ngược lại, là chỉ quy định ai không được hưởng, còn lại thì đều nghiễm nhiên được hưởng. Đây là một cách làm hay của chúng ta. Không chỉ giúp chính sách rõ ràng, công khai, minh bạch, phù hợp với thông lệ quốc tế hơn mà còn giúp việc triển khai các gói hỗ trợ thuận lợi hơn, giảm bớt những sai phạm trong thực hiện.

Đó là những điểm tôi đánh giá cao trong nội dung của NQ lần này bên cạnh quy mô của gói hỗ trợ.

Tuy nhiên, có một điểm tôi khá lo ngại đó là gói đầu tư công. Có thể nói, đầu tư công cùng với XK, cùng với tiêu dùng trong nước thường xuyên là trụ cột của nền kinh tế, của tăng trưởng. Nhưng, thời gian qua, việc giải ngân, thực hiện các dự án đầu tư công khá chậm. Nếu muốn chính sách hỗ trợ phát huy tốt nhất, hiệu quả nhất thì chắc chắn ta phải xử lý các vấn đề liên quan đến tiến độ triển khai các dự án cũng như tiến độ giải ngân. Có như vậy, con số 167 nghìn tỷ đồng dành cho đầu tư công trong gói hô trợ lần này mới phát huy tác dụng trong thực tế, qua đó tạo ra cơ sở hạ tầng cho sự tăng trưởng của nền kinh tế. Nhiều dự án đầu tư công không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa tăng trưởng, phục vụ cho sự hiện đại hóa của đất nước, hay tạo nền tảng của sự phát triển KTXH cho địa phương cho vùng mà còn trực tiếp phục vụ sự phát triển bền vững, hướng đến tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường. Đầu tư công nếu sử dụng tốt sẽ góp phần tốt trong đảm bảo những mục tiêu xa hơn.

Đặc biệt, chính sách thuế TTĐB cũng được đưa vào nội dung với một sản phẩm rất phù hợp với xu thế của thời đại, gần như đang đồng hành cùng các nước tiên tiến trên thế giới trong sử dụng sản phẩm bảo vệ môi trường – đó là các phương tiện vận tải sử dụng điện thay thế cho các nhiên liệu hóa thạch đã được sử dụng hàng trăm năm nay. 

Tôi cho rằng, gói chính sách lần này không chỉ mang tính kế thừa những gì đã thực hiện để cải thiện nâng cao hơn mà mang dấu ấn của hội nhập, của sự bắt nhịp chung của kinh tế Việt Nam đồng hành với thế giới, với xu thế hiện đại nhất, đảm bảo tăng trưởng vừa cao, vừa ổn định, đồng thời bảo vệ môi trường và bền vững.

Tôi xin khẳng định lại, gói hỗ trợ lần này bên cạnh quy mô lớn còn có cả sự thay đổi về chất, chất ở đây là tư duy thiết kế chính sách, tư duy định hướng dòng tiền và những tiến độ trong tạo điều kiện thực thi chính sách thuận lợi, hiệu quả, phù hợp nhất với xu thế chung của thời đại cũng như sự vận động của nền kinh tế thị trường tại Việt Nam.

Câu hỏi 5: Khi một gói chính sách được đưa ra, điều doanh nghiệp và người dân quan tâm là việc thực hiện sao cho thực chất và hiệu quả. Chính phủ và các bộ ngành, địa phương cần làm gì để gói hỗ trợ này đạt được mục tiêu đề ra, thưa ông Hoàng Văn Cường?

Ông Hoàng Văn Cường: Ở các nước, khi đại dịch xảy ra, Chính phủ thường có các gói hỗ trợ toàn dân, họ dùng tiền phát cho tất cả mọi người để đỡ khó khăn. 

Việt Nam chúng ta lại khác, không dùng tiền để phát như các nước. Song, gói chính sách vừa được ban hành, đúng như phân tích của TS Ánh, đây gần như là một gói hỗ trợ toàn dân. 

Hầu hết người dân, phần lớn Dn đều được hưởng các chính sách hỗ trợ này. Như giảm thuế GTGT, cứ ai đi mua hàng hóa đều được hưởng; giảm lãi suất cũng vậy, độ lan tỏa rất lớn.

Gói hỗ trợ lớn thường mang theo kỳ vọng rất lớn nên câu chuyện làm sao thực hiện thực chất, hiệu quả thường sẽ được đặt ra.

Tôi cho rằng có 2 điểm cần quan tâm: Thứ nhất, phải đưa chính sách sớm đi vào cuộc sống nhất, đặc biệt trong bối cảnh khó khăn của đại dịch, chính sách đưa ra để phục hồi thì càng phải sớm. Bởi nếu không sớm, qua một thời gian kinh tế suy giảm, doanh nghiệp phá sản thì không thể phát huy kịp thời. Càng sớm, càng kịp thời, càng hiệu quả. 

Muốn chính sách đi vào cuộc sống nhanh thì có nhiều phần. Như việc giảm thuế GTGT thì có thể áp dụng ngay, người dân đi mua hàng hóa có thể được hưởng ngay. Nhưng cũng có những cấu phần của chính sách cần được thông qua các thủ tục. Vậy thủ tục cần được thiết kế thật đơn giản, rõ ràng và phù hợp với điều kiện thực tiễn của đối tượng được hưởng thụ. Tránh tình trạng chính sách hay nhưng lại đưa ra thủ tục để quản lý chặt chẽ tránh thất thoát, tránh lợi dụng, nhiều quy định quy trình, không sai phạm nhưng lại không đến được với người được hưởng. Như dư luận có câu tại sao không được hưởng, lên tivi mà hỏi. Đấy là do chúng ta đưa ra những ràng buộc phi thực tiễn. Việc quản lý là cần thiết nhưng các điều kiện đặt ra cần thực tiễn, có thể tham vấn chính các đối tượng thụ hưởng xem nên kiểm soát ntn mới hợp lý thay vì để chính cán bộ quản lý đặt ra với tiêu chí an toàn cho họ thì sẽ khó phù hợp với đối tượng. Ở đây rất cần có tiếng nói, có ý kiến, phải được phản hồi từ chính đối tượng hưởng thụ để đưa ra điều kiện ràng buộc trong kiểm soát thực thi chính sách.

Yếu tố thứ hai, khi đã đưa ra được các điều kiện, thủ tục, chỉ tiêu để kiểm soát rồi thì chúng ta phải tiến hành rà soát làm sao hỗ trợ đúng và trúng đối tượng. Đây là một điều vô cùng quan trọng. Trúng thì ta đã nói rồi – ai gặp khó khăn do dịch bệnh ta đều hỗ trợ. Nhưng đúng thì sao? Làm sao để đúng đối tượng đó.

Tôi đồng ý với TS Ánh rằng cách thiết kế chính sách lần này rất hay, chúng ta không đưa ra quy định ai là người được hỗ trợ mà ta chỉ ra đối tượng nào không được hỗ trợ. Số này rất ít, chỉ có nhóm các Dn đang có lợi thế trong đại dịch như lĩnh vực kinh doanh tài chính – ngân hàng, chứng khoán, bất động sản, viễn thông… Số còn lại đương nhiên được hưởng hỗ trợ, không cần xin – cho gì cả. Với cách thiết kế này thì việc kiểm soát không còn quá khó khăn. 

Tuy nhiên, trong chính sách có những gói không cẩn trọng thì sẽ có tình trạng cùng thuộc đối tượng nhưng có người tiếp cận được dễ dàng và được hỗ trợ nhiều nhưng có người không tiếp cận được hoặc được hỗ trợ không đáng kể. Đơn cử gói hỗ trợ lãi suất. Rõ ràng đây là gói sẽ tác động rất rộng, rất mạnh đến doanh nghiệp vì Chính phủ chỉ bỏ ra 40 nghìn tỷ để hỗ trợ lãi suất nhưng lại tác động đến 2 triệu tỷ tiền vốn của DN. DN nào sẽ được hưởng lãi suất thấp của 2 triệu tỷ đó. Nếu không cẩn thận, có thể 2 triệu tỷ đó chỉ dồn vào 1 nhóm DN lớn nào đó – lại chưa chắc là đối tượng thực sự khó khăn. Trong khi đó, nhiều hộ kinh doanh gia đình, DN nhỏ và vừa là những đối tượng không phải cần quá nhiều nhưng nếu không có thì không thể phục hồi, phát triển được. Độ phủ của chính sách này rất rộng, trong bối cảnh các đối tượng nhỏ thường không có điều kiện theo các tín dụng truyền thống, không có tài sản bảo đảm hoặc đang có khoản vay chưa thanh toán,…. Nếu đặt ra các điều kiện không vi phạm tiêu chuẩn cho vay thì nhóm này nhiều khả năng sẽ bị loại. Tôi cho rằng phải có một phương thức hành động khác đi trong kiểm soát các chương trình hỗ trợ. Nếu ta chuyển việc kiểm soát bằng các điều kiện tín dụng sang hình thức ngân hàng phải đồng hành với DN, phải xem DN vay tiền để làm gì, mua hàng, mua nguyên vật liệu thì ta có thể trả tiền trực tiếp cho bên mua để Dn nhận nguyên vật liệu về sản xuất, sau đó theo dõi quy trình sản xuất, đầu ra tiêu thụ sản phẩm để thu ngay đồng tiền bán hàng đó để quay trở lại. Như vậy, ngân hàng sẽ quản lý cho vay thông qua quản lý dòng tiền thay bằng tài sản hay thế chấp. Nếu được vậy, các DN, các hộ thực sự có hoạt động phát triển, phục hồi thì sẽ được hưởng chính sách. Còn các đối tượng dùng tiền đó để quay vòng, gửi ngân hàng, đầu tư chứng khoán, bất động sản thì sẽ kiểm soát được ngay. 

Hiện nay, chúng ta có thể thấy được lợi thế của chuyển đổi số, của không dùng tiền mặt. Đây là cơ hội tốt để ta làm mạnh hơn việc kiểm soát nghiêm ngặt các giao dịch không dùng tiền mặt. Với trang bị công nghệ số hiện nay thì bất kể dòng tiền nào từ ngân hàng đầu tư ra cho DN, chảy đi đâu, đến DN nào, chúng ta đều biết được. Khi đó, ta có thể đảm bảo được dòng tiền khi thực hiện các chính sách hỗ trợ này sẽ đúng, trúng mục đích hỗ trợ phục hồi, phát triển kinh tế chứ không chảy vào các lĩnh vực đầu cơ tài sản, đầu tư tài chính để xảy ra các trục lợi chính sách.

Chúng ta phải thay đổi căn bản các phương thức quản lý, quản trị, kiểm soát chính sách.

Tôi nhấn mạnh một điều rằng: Nghị quyết Quốc hội chỉ là nghị quyết, chỉ là giấy phép. Còn có đi vào cuộc sống hay không thì phụ thuộc nhiều vào chương trình hành động để thực hiện cái đó. Tôi rất trông đợi điều này từ Chính phủ, giao trách nhiệm cho từng ngành, từng lĩnh vực để triển khai cụ thể để sau này chúng ta kiểm tra đánh giá lại không chỉ dừng ở việc các cơ quan triển khai chính sách không có sai phạm mà đánh giá được hiệu quả của chính sách, giải ngân được bao nhiêu, vào được bao nhiêu DN, bao nhiêu đối tượng. 

Ban Biên tập eFinance.vn