Phối hợp CS tài khóa - tiền tệ: Tránh áp lực thanh khoản cho ngân sách

Nền kinh tế Việt Nam vẫn tiếp tục phải đối mặt với nhiều thách thức trong ngắn hạn và chưa thể trở lại quỹ đạo tăng trưởng nhanh trong 1-2 năm tới. Những tồn tại trong công tác quản lý và điều hành kinh tế vĩ mô được xác định là một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng này.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.
 
Áp lực từ thị trường trái phiếu
 
Tại Hội thảo Phối hợp chính sách tài khóa và chish sách tài chính tiền tệ trong điều hành kinh tế vĩ mô giai đoạn 2014 - 2015 tổ chức ngày 19/12, TS. Trịnh Quang Anh Trưởng phòng Khoa học - Hợp tác, Học viện Chính sách và Phát triển cho biết: Nhìn tổng thể, cho đến cuối năm 2013, Chính phủ vẫn đánh giá, các giải pháp thực hiện tái cơ cấu kinh tế cho đến nay về cơ bản vẫn trong thể chế hiện hành, chưa có đột phá trong thể chế huy động, phân bố và sử dụng nguồn lực xã hội theo cơ chế thị trường. Điều này có nguyên nhân từ nhận thức trên một số vấn đề về chủ trương còn khác nhau dẫn đến đổi mới thể chế, chính sách còn ngập ngừng, thiếu nhất quán, nhất là về vai trò của Nhà nước và kinh tế nhà nước trong kinh tế thị trường, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, sở hữu và quyền sử dụng đất đai, giá cả một số mặt hàng… chưa tạo được đột phá để huy động mạnh mọi nguồn lực cho phát triển…
 
Mặc dù điều chỉnh giảm các chỉ tiêu nhưng áp lực đối với công tác quản lý, điều hành kinh tế vĩ mô không hề nhẹ đi. Theo đó, năm 2014, Chính phủ xác định “tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa phối hợp hiệu quả với chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế”. Cụ thể, chính sách tiền tệ tiếp tục được thực hiện linh hoạt còn “chặt chẽ” là dành cho chính sách tài khóa. Khi yêu cầu thực hiện chính sách tài khóa chặt chẽ với sự chấp thuận nới tỷ lệ bội chi ngân sách lên 5,3% GDP và cho phát hành bổ sung trái phiếu chính phủ thêm 170.000 tỷ đồng trong năm 2014 - 2016, kết hợp với việc điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, phù hợp với tình hình kinh tế - tài chính hiện hành… Như vậy, Chính phủ sẽ phải rất thận trọng, khéo léo trong việc phối hợp giữa 2 chính sách trụ cột này.
 
Trong năm 2014 - 2015, sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi mà ngân sách nhà nước gia tăng mức bội chi và Bộ Tài chính phải đẩy mạnh phát hành trái phiếu chính phủ. Nghĩa là, NHNN trong khi vẫn phải đảm bảo cung ứng đủ thanh khoản cho hệ thống TCTD song không được làm gia tăng áp lực lạm phát tiền tệ, đồng thời, phải tạo điều kiện cho Bộ Tài chính phát hành thành công tín phiếu và trái phiếu Chính phủ. Ngược lại, Bộ Tài chính cũng cần tính toán kỹ và thống nhất với NHNN về lượng, cơ cấu kỳ hạn, thời điểm cũng như mức lãi suất trái phiếu dự kiến phát hành. Để lãi suất vừa có thể đáp ứng kỳ vọng của nhà đầu tư nhưng không phá vỡ mặt bằng lãi suất. Hiện hệ thống TCTD đang nắm giữ gần 450.000 tỷ đồng tín phiếu và trái phiếu chính phủ, chiếm khoảng 90% tổng lượng trái phiếu chính phủ đang lưu hành là một quan ngại lớn. Với áp lực phát hành trái phiếu chính phủ gộp khoảng 320.000 tỷ đồng trong năm 2014 - 2015, cả để đảo nợ đến hạn, nguy cơ nợ công chuyển sang trạng thái mất an toàn là có khả năng, kéo theo đó là nguy cơ bất ổn hệ thống ngân hàng.
 
Cùng chung lo ngại cho hệ thống tài chính - tiền tệ của Việt Nam, TS. Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện nghiên cứu phát triển kinh doanh cho rằng: Áp lực những năm tới đấy chủ yếu đến từ thị trường trái phiếu khi chiếm đến 17% GDP, trong đó, chỉ 10% là trái phiếu doanh nghiệp. Trong trái phiếu doanh nghiệp lại có đến 80% là các ngân hàng thương mại mua. Có thể nói, bên bán là Ngân sách nhà nước và bên mua là các ngân hàng thương mại với thời gian đáo hạn trái phiếu ngắn hơn trước chỉ khoảng 3,2 năm. Với tốc độ tăng nợ công nhanh như thời gian qua và thời gian đáo hạn tập trung vào giữa năm 2014 - 2015, rất có thể ngân sách sẽ khó khăn trong thanh khoản, từ đó ảnh hưởng thanh khoản của các ngân hàng thương mại.
 
Theo đánh giá của các chuyên gia kinh tế, với việc nới bội chi và phát hành bổ sung trái phiếu được kỳ vọng chi cho đầu tư phát triển sẽ tăng lên, song trên thực tế, chi đầu tư phát triển đang giảm một cách mạnh mẽ và 2013 là năm giảm nhất kể từ khi đổi mới về chi đầu tư phát triển. Nếu muốn đạt mức tăng trưởng GDP 5,8% năm 2014 thì tổng vốn đầu tư toàn xã hội phải đạt từ 30% GDP trở lên, trong khi đó, các chính sách đổi mới kinh tế trong thập kỷ qua về cơ bản đã phát huy hết vai trò là động lực phát triển, cần phải có những đột phá mới cho giai đoạn tiếp theo.
 
Xây dựng khuôn khổ chương trình tài chính vĩ mô
 
Việc phối hợp các chính sách vĩ mô, đặc biệt là chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ mang tính quyết định đến khả năng đạt được mục tiêu ổn định và phát triển kinh tế một cách bền vững trong trung và dài hạn. Tuy nhiên, một số tồn tại hiện nay là chính sách tiền tệ hiện đang tập trung thúc đẩy tín dụng cho nền kinh tế, hạ lãi suất thị trường nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh trong khi chính sách tài khóa đẩy mạnh hoạt động huy động vốn từ nền kinh tế trong nước. Thêm vào đó, thâm hụt ngân sách trong năm 2013 được điều chỉnh lên mức 5,3% GDP thay vì kế hoạch 4,8% GDP như ban đầu cũng gây ra khó khăn nhất định cho chính sách tiền tệ trong việc điều hòa cung ứng tiền nhằm đạt được mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định thanh khoản hệ thống ngân hàng.
 
Thực tế này đòi hỏi nghệ thuật điều hành hai công cụ chính sách tiền tệ và tài khóa khôn khéo, nhưng để giải quyết căn cơ những yếu kém nội tại đã gây bất ổn cho nền kinh tế nhiều năm qua thì cả trong ngắn hạn và dài hạn, cải cách thể chế kinh tế cũng đang là yêu cầu cấp thiết.
 
Cùng với đó, cần một khung chương trình để nhận diện và xây dựng các kế hoạch vĩ mô hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát một cách bền vững trong trung và dài hạn. Một trong những công cụ kỹ thuật mà nhiều nước như Mexico, Hàn Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan… đã áp dụng tương đối hiệu quả vào hoạt động điều hành chính sách quốc gia đó là khuôn khổ chương trình tài chính vĩ mô. Theo đó, một khuôn khổ chương trình tài chính vĩ mô sẽ được xây dựng từ kịch bản cơ sở trong một khung thời gian nhất định trong tương lai, sử dụng một khuôn khổ kế toán và các mối quan hệ hành vi chủ chốt nhằm nhận diện các mục tiêu và công cụ chính sách phù hợp với nguồn lực sẵn có của nền kinh tế.
 
Cụ thể, chương trình tài chính được xây dựng dựa trên 4 tài khoản vĩ mô quan trọng nhất của nền kinh tế là tài khoản quốc gia, tài khoản chính phủ, tài khoản tiền tệ và tài khoản cán cân thanh toán quốc tế đại diện cho 4 khu vực của nền kinh tế. Nhờ vậy, một hoạt động kinh tế phát sinh sẽ được phản ánh vào một trong 4 tài khoản vĩ mô của nền kinh tế và sự thay đổi của tài khoản này sẽ dẫn đến sự biến đổi của tài khoản kia và hoạt động kinh tế này tiếp tục được ghi nhận vào các tài khoản tiếp theo. Hiện chương trình này đang được nghiên cứu, ứng dụng tại Ngân hàng Nhà nước, bước đầu đã cập nhật dữ liệu cho các chỉ tiêu của 4 tài khoản vĩ mô, xây dựng các liên kết trong nội bộ các tài khoản, kiểm tra tính nhất quán của các chuỗi dữ liệu… từ đó chiết suất các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng để tiến hành dự báo cơ sở giai đoạn 2013 - 2014.
 
(T.Hương)