Quản lý thuế thương mại điện tử: Cần kết nối thông tin giữa 3 Bộ

(eFinance Online) -Kinh doanh thương mại điện tử (TMĐT) ngày càng phát triển ở Việt Nam. Việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, quảng cáo thông qua các phương tiện như phát sóng truyền hình, các website TMĐT, sàn giao dịch TMĐT, các mạng xã hội của nước ngoài. Tuy nhiên, ý thức tuân thủ pháp luật thuế của một bộ phận kinh doanh TMĐT chưa cao, việc quản lý thu thuế trên thực tế hiện nay còn gặp không ít khó khăn.
Tại Việt Nam, TMĐT đang phát triển một cách nhanh chóng bởi những thuận lợi từ đặc điểm của loại hình kinh doanh qua mạng. Ảnh: Thu HằngTại Việt Nam, TMĐT đang phát triển một cách nhanh chóng bởi những thuận lợi từ đặc điểm của loại hình kinh doanh qua mạng. Ảnh: Thu Hằng

Còn nhiều khó khăn

Giao dịch TMĐT có những đặc điểm ảo, khó kiểm chứng thông tin nhận dạng,t ính rộng lớn, tính quốc tế, dễ dàng tiếp cận, dễ dàng xóa bỏ, thay đổi nên tạo sjw khó khăn trong việc nắm bắt các giao dịch, do giao dịch chỉ bằng các tài liệu điện tử, giao dịch diễn ra dễ dàng và trong thời gian ngắn ngay cả với nước ngoài. Quản lý thuế hiện nay đối với loại hình kinh doanh qua mạng gặp nhiều khó khăn trong việc quản lý như khó xác định chính xác được người nộp thuế, doanh thu phát sinh... (việc quản lý theo chức năng cũng có nhược điểm là thiếu đầu mối phát hiện đối tượng nộp thuế mới), nắm bắt quy mô hoạt động kinh doanh, nắm bắt toàn bộ quá trình giao dịch...

Hơn nữa, hoạt động của mạng internet là giao dịch xuyên biên giới, các công ty vận hành mạng nước ngoài hầu hết không đăng ký kinh doanh và không có văn phòng đại diện chính thức tại Việt Nam (VN). Đây là một khó khăn cho ngành thuế throng việc quản lý thuế đối với các mạng nước ngoài kinh doanh theo hình thức thông qua mạng internet. Hiện Google và Facebook cung cấp dịch vụ quảng cáo trực tuyến cho thị trường Việt Nam thông qua hai hình thức: Phương thức thông qua các đại lý tại VN thì chính các DN này sẽ phải thực hiện các nghĩa vụ thuế theo quy định pháp luật VN khi phát sinh doanh thu. Điều này dẫn tới phụ thuộc vào ý thức về nghĩa vụ thuế của các đại lý tại VN.

Phương thức thứ hai là mua – bán trực tuyến và thanh toán trực tuyến qua thẻ tài khoản tín dụng hoặc ví điện tử. Trường hợp này chưa được quy định rõ, phía mua dịch vụ sẽ bị thiệt vì không có hóa đơn nên sẽ không được tính vào chi phí hợp lý, hoặc bên mua dịch vụ sẽ tự hợp thức hóa bằng cách mua hóa đơn của một dịch vụ khác. Điều đó dẫn tới việc khi thanh tra, kiểm tra thuế cũng sẽ khó biết hết được giá trị thực của chi phí trả cho dịch vụ quua mạng (nhiều trường hợp cần đối chiếu thông tin từ nguồn và phải truy lần theo thông tin thành toán thực tế). Mặt khác, với việc thanh toán dựa vào số lần click chuột trả tiền thì việc xác định doanh thu quảng cáo của nhà mạng nước ngoài không dễ dàng vì phải đối chiếu thông tin giữa 2 ngân hàng tham gia thanh toán trong điều kiện họ không phải là đối tượng nộp thuế trực tiếp và ngân hàng của công ty mạng cũng ở nước ngoài. Người mua dịch vụ của các tổ chức nước ngoài là cá nhân nên khó có cơ sở đề nghị khấu trừ thuế nhà thầu của tổ chức nước ngoài khi mua dịch vụ.

 Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật của Việt Nam liên quan đến hoạt động TMĐT còn có những nội dung chưa đồng bộ và hoàn thiện đòi hỏi người cán bộ công chức Nhà nước phải có trình độ để nghiên cứu tổng thể các pháp luật có liên quan, phải có tính sáng tạo và cái tâm trong sáng để xử lý đảm bảo không ảnh hưởng tới nguồn thu ngân sách của Nhà nước cũng như quyền lợi của NNT.

Quản lý theo thông lệ quốc tế

Trước tình hình phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử (TMĐT), Bộ Tài chính đã chỉ đạo Tổng cục Thuế xây dựng Đề án và đều xuất các giải pháp cụ thể về việc quản lý thu thuế đối với hoạt động kinh doanh TMĐT qua mạng.

Bộ Tài chính cũng tích cực phối hợp với Bộ Công thương, Bộ Thông tin truyền thông trong việc quản lý đối với TMĐT theo quy định tại Nghị định số 52/2013/NĐ-CP, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP như: kết nối và chia sẻ cung cấp thông tin giữa Bộ Công thương, Bộ Thông tin truyền thông và Bộ Tài chính những thông tin về các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực TMĐT phải báo cáo theo quy định của pháp luật.

Để quản lý thu thuế đối với các cá nhân bán hàng qua mạng phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tế, nghiên cứu bổ sung quy định pháp luật liên quan về chính sách thu thuế đối với hàng hóa giữa các cá nhân bán hàng qua mạng như phương thức thu thuế đối với hàng hóa chuyển phát nhanh qua biên giới.

Đồng thời nghiên cứu để thực hiện các giải pháp về thanh toán như yêu cầu các dịch vụ xuyên biên giới khi thanh toán phải thanh toán qua cổng thanh toán nội địa (thông qua Công ty cổ phần thanh toán quốc gia –Trung tâm Napas của Ngân hàng nhà nước). Từ đó cơ quan thuế mới kiểm soạt được doanh thu của các dịch vụ này để có cơ sở đề nghị tổ chức nước ngoài khấu trừ nộp thuế. Đối với loại hành này các nước Châu Âu, Ấn Độ, Hàn Quốc đã thực hiện giải pháp thanh toán trên.

Bộ Tài chính thống nhất với đề xuất của Bộ Thông tin truyền thông đề nghị Google thiết lập đầu mối đại diện chính thức của Google tại Việt Nam để phối hợp chặt chẽ hơn với cơ quan quản lý Nhà nước của Việt Nam và đề nghị Bộ Thông tin truyền thông phối hợp với Bộ Tài chính đề nghị nhà cung cấp nước ngoài như Facebook, Google... khai báo, nộp thuế nhà thầu đối với các dịch vụ mà tổ chức nước ngoài có cung cấp cho tổ chức, cá nhân ở Việt Nam. Cơ quan thuế sẽ thông báo cho nhà cung cấp nước ngoài biết, đồng thời thông báo cho cơ quan thuế nước sở tại.

Bộ Tài chính sẽ chỉ đạo cơ quan thuế các cấp phối hợp và trao đổi cung cấp thông tin cơ quan thuế với cá công ty cung cấp dịch vụ internet (VDC, FPT, Mobifone, Vinaphone, Viettel,..) về số lượng và giá trị giao dịch TMĐT; về việc thanh toán qua ngân hàng trong các giao dịch TMĐT.

Đặc biệt phối hợp với các cơ quan ban ngành có liên quan rà soát để sửa đổi, bổ sung quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực TMĐT, lĩnh vực thuế để tăng cường tính răn đe đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh TMĐT cố tình trốn thuế, tránh thuế. 

(T.H)