Rào cản ngăn Việt Nam tối ưu hóa tiềm năng tăng trưởng

Mặc dù tình hình kinh tế của Việt Nam tiếp tục được cải thiện, song một loạt các yếu tố mang tính cơ cấu tiếp tục ngăn cản Việt Nam phát huy được tối đa tiềm năng tăng trưởng của mình. Do đó, cần tiếp tục có những cải cách về cơ cấu nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước tham gia nhiều hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu để nền kinh tế khai thác được tối đa tiềm năng tăng trưởng.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Đây là nhận định của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) trong một báo cáo hàng đầu của tổ chức này được công bố ngày hôm nay.

Ưu tiên tăng cường hệ thống ngân hàng
 
Trong ngắn hạn, cần ưu tiên tăng cường hệ thống ngân hàng và vạch ra chiến lược rõ ràng để giải quyết vấn đề nợ xấu. Tăng trưởng kinh tế cũng sẽ được thúc đẩy nhờ các luật mới hướng dẫn việc thoái vốn khỏi các doanh nghiệp nhà nước và tăng cường cổ phần hóa các doanh nghiệp này.
 
Chính sách tài khóa dự báo sẽ tiếp tục mở rộng do thâm hụt ngân sách được đặt mục tiêu 5% GDP trong năm 2015 và khả năng duy trì ở mức này trong năm 2016. Thâm hụt ngân sách đồng nghĩa với việc nhấn mạnh nhiều hơn vào chi tiêu đầu tư, dự báo sẽ tăng gần 20% sau hai năm giảm tuyệt đối. Chi thường xuyên dự báo sẽ tăng 10%, trong đó chi cho y tế tăng 11% và chi cho giáo dục tăng 5%.
 
Chính phủ có thể sẽ gặp khó khăn để đạt được chỉ tiêu thu ngân sách. Việc hạ thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp, dỡ bỏ thuế quan và miễn thuế cho các doanh nghiệp ưu tiên đều ảnh hưởng đến kết quả thu ngân sách. Từ 2010 đến 2014, tài trợ và thu ngân sách trung ương giảm từ 27,6% GDP xuống khoảng 21,5% GDP. Trong thời kỳ dự báo, giá dầu giảm sẽ tác động bất lợi đến số thu thuế tài nguyên và thuế thu nhập doanh nghiệp. Dự báo triển vọng giả định rằng nếu thu ngân sách thấp hơn kế hoạch, chính phủ sẽ lựa chọn tăng thâm hụt ngân sách hơn là cắt giảm chi tiêu. Theo kịch bản đó, nợ công đến cuối năm 2016 có thể tăng đến 60% GDP. Triển vọng này cho thấy tầm quan trọng của việc điều chỉnh cân đối ngân sách trong trung hạn để tránh làm tăng nợ công lên mức không bền vững hoặc gây tác động xấu đến lòng tin của nhà đầu tư.
 
Lạm phát tiếp tục giảm trong hai tháng đầu năm 2015 xuống mức trung bình 0,6% so với cùng kỳ năm trước do giá lương thực và vận tải đều giảm. Tính cho cả năm, lạm phát dự báo ở mức 2,5%. Lạm phát sẽ tăng tốc nhanh lên 4,0% trong năm 2016 khi cầu trong nước và giá dầu thế giới đều tăng.
 
Dự báo cũng cho rằng chính phủ sẽ tiếp tục duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng trong bối cảnh lạm phát thấp. Ngân hàng trung ương muốn các ngân hàng thương mại giảm lãi suất huy động và cho vay thêm 1,0-1,5 điểm phần trăm trong năm 2015, sau khi đã giảm khoảng 2 điểm phần trăm trong năm 2014. Trong tháng Giêng năm nay, ngân hàng trung ương đã tiếp tục điều chỉnh tỉ giá giữa đồng Việt Nam và đô-la Mỹ xuống thêm 1% và có thể tiếp tục điều chỉnh xuống 2% trong năm 2015.
 
Tuy nhiên, hệ thống ngân hàng và DNNN sẽ tiếp tục tiềm ẩn rủi ro cho nền kinh tế. Các ngân hàng thiếu vốn, thiếu minh bạch tài chính sẽ vẫn rủi ro cao trước các cú sốc. Việc tìm kiếm đủ nhà đầu tư tham gia vào các đợt bán cổ phần của DNNN bị cản trở bởi cấu trúc sở hữu phức tạp và thông tin tài chính không rõ ràng của các doanh nghiệp này.
 
DN cần tham gia vào chuỗi giá trị  
 
Nền kinh tế Việt Nam đã từng bước mở cửa trong suốt 30 năm qua, với nhiều hiệp định thương mại được ký kết sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO vào năm 2007, thúc đẩy đầu tư nước ngoài trực tiếp, xuất khẩu và phát triển kinh tế. Luồng vốn FDI đạt trung bình 7,3 tỉ USD mỗi năm trong giai đoạn 2007 - 2014. Thương mại quốc tế phát triển làm cho tỉ trọng thương mại so với GDP tăng đến 170%. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa công nghiệp tăng mạnh trong 5 năm vừa qua khi các công ty đa quốc gia xây dựng cơ sở sản xuất ở Việt Nam để lắp ráp sản phẩm như điện thoại di động và hàng điện tử, hoặc để sản xuất linh kiện như một công đoạn trong chuỗi sản xuất toàn cầu của họ.
 
Tuy nhiên, phần đóng góp chính của Việt Nam vào chuỗi sản xuất này vẫn là lao động kỹ năng thấp. Chi phí nguyên liệu và linh kiện nhập khẩu vào Việt Nam ước tính lên đến 90% giá trị xuất khẩu các sản phẩm chế tác của Việt Nam ra nước ngoài. Sự thịnh vượng kinh tế trong tương lai phụ thuộc nhiều vào việc đưa các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi giá trị toàn cầu, để các doanh nghiệp được hưởng lợi từ nguồn vốn và công nghệ từ nước ngoài, tiếp cận với thị trường thế giới, và tạo tác động lan tỏa đến toàn bộ nền kinh tế.
 
Nâng cao tốc độ tăng trưởng về lâu dài phụ thuộc vào khả năng cải cách cơ cấu sâu rộng hơn của Việt Nam, đặc biệt là hỗ trợ cho các doanh nghiệp trong nước hội nhập sâu rộng hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Tại thời điểm này, các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) của Việt Nam nhìn chung vẫn thiếu năng lực tham gia vào chuỗi cung cấp cho các nhà máy nước ngoài đầu tư. Chỉ có 36% doanh nghiệp Việt Nam hội nhập vào mạng lưới sản xuất cho xuất khẩu, so với gần 60% ở Malaysia và Thái Lan. Chỉ có 21% DNVVN của Việt Nam tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, và tỉ trọng đóng góp của DNVVN vào xuất khẩu của Việt Nam thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác.
 
Mặc dù chính phủ vẫn đang hỗ trợ phát triển công nghiệp theo chiều sâu và phát triển DNVVN, song do thiếu sự phối hợp liên ngành nên chính sách còn manh mún và việc thực hiện còn yếu kém. Đề xuất về một dự án luật mới cho DNVVN sẽ là một cơ hội để giải quyết các vướng mắc, yếu kém này. Bên cạnh đó, tăng cường tham vấn với khu vực tư nhân sẽ cung cấp thông tin nhiều hơn cho chính phủ về những hạn chế đang ngăn cản sự kết nối với các mạng lưới sản xuất. Khu vực tư nhân cần tham gia nhiều hơn vào các sáng kiến thiết kế cho sự phát triển của khu vực này. Ví dụ, thành công của Viện Quản trị Công ty được đề xuất mới đây, với mục tiêu tăng cường công tác quản trị công ty, sẽ phụ thuộc vào việc thu hút tài trợ và sự ủng hộ từ khu vực tư nhân.
 
Các chiến lược ngành cũng đóng vai trò cần thiết. Đối với các doanh nghiệp sản xuất, khuyến khích sự phát triển của các cụm doanh nghiệp sẽ góp phần tạo ra quy mô kinh tế, chia sẻ kiến thức, giảm chi phí giao dịch và vận tải. Ngành nông nghiệp sẽ được hưởng lợi từ việc cải thiện các tiêu chuẩn cấp chứng chỉ sản phẩm và quản lý nguồn lợi hải sản tốt hơn.
 
“Để tăng cường năng lực cho các DNNVV tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu, cần nỗ lực tăng cường sự phối hợp liên ngành, đặc biệt là trong quá trình xây dựng và thực hiện các chính sách dành cho DNNVV. Tăng cường tham vấn rộng rãi với khu vực tư nhân còn giúp xác định các vướng mắc hạn chế sự kết nối với mạng lưới sản xuất. Cần có các chiến lược cho từng ngành để hỗ trợ thành lập các cụm công nghiệp và tạo quy mô kinh tế” - Ông Kimura nhấn mạnh...
 
(T.Hương)