Sáng kiến chung Việt – Nhật giúp Việt Nam cải thiện môi trường đầu tư

Hôm nay, ngày 9/12, tại Hà Nội, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam, Ủy ban Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản (Keidanren) đã tổ chức cuộc họp cấp cao Ủy ban Đánh giá và Xúc tiến Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản để tổng kết tình hình thực hiện Kế hoạch hành động Sáng kiến chung giai đoạn V.

Ảnh: TH.Ảnh: TH.

77% hạng mục đã hoàn thành xuất sắc

Trước đó, ngày 26/7/2013, tại cuộc họp cấp cao Ủy ban Đánh giá và Xúc tiến Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản, hai bên đã ký kết Kế hoạch hành động Sáng kiến chung giai đoạn V với thời gian thực hiện 16 tháng từ tháng 7/2013 đến tháng 12/2014. Theo đó, kế hoạch hành động giai đoạn V gồm 13 nhóm vấn đề với 26 hạng mục và 104 tiểu hạng mục, liên quan đến một số nội dung có tính trước mắt cũng như dài hạn gồm thực thi luật pháp, chính sách, thuế, hải quan - vận tải; dịch vụ; phi ngân hàng; sở hữu trí tuệ; phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ; bán lẻ; môi trường; lao động; ổn định kinh tế vĩ mô; an toàn vệ sinh thực phẩm và xây dựng kết cấu hạ tầng có sự tham gia của khu vực tư nhân.

Sau 16 tháng triển khai, về cơ bản, hai bên đã thực hiện tốt Kế hoạch hành động giai đoạn V. Thông qua các cuộc đối thoại chính sách, nhiều khuyến nghị mang tính xây dựng của phía Nhật Bản đã được các bộ, ngành liên quan tiếp thu hoặc ghi nhận, tiếp tục nghiên cứu để báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét trong quá trình hoàn thiện luật pháp, chính sách, cũng như việc tổ chức thực thi.

Kết quả đánh giá của Ủy ban Đánh giá và Xúc tiến Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản cho thấy, trong tổng số 104 tiểu hạng mục, đã có 95 hạng mục triển khai tốt hoặc đang đang được triển khai và chỉ có 9 tiểu hạng mục chưa triển khai. Trong số 95 hạng mục này, thì có 81 tiểu hạng mục đã triển khai tốt và đúng tiến độ; 14 tiểu hạng mục đang triển khai nhưng chậm tiến độ. Trong đó, các hạng mục hoàn thành tốt gồm các vấn đề liên quan đến vận tải - hải quan, an toàn thực phẩm, thuế, ngân hàng và phi ngân hàng, sở hữu trí tuệ, xây dựng kết cấu hạ tầng.

Đánh giá về vai trò của Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch Bùi Quang Vinh cho biết: Tính từ năm 2003, Sáng kiến chung đã trải qua 11 năm liên tục và giúp Việt Nam cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, từ đó thu hút được DN Nhật Bản và các quốc gia khác, đóng góp vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong những năm qua. Trải qua 5 giai đoạn với 11 năm liên tục sáng kiến chứng tỏ sức sống và thực sự đem lại lợi ích cho cả hai phía để có thể tiếp tục như hiện nay. 77% vấn đề nêu trong sáng kiến đã hoàn thành xuất sắc đúng thời hạn. Không chỉ dừng lại ở giai đoạn V, hai bên sẽ tiếp tục thực hiện giai đoạn VI kể từ năm 2015 trở đi.

Còn theo Đại sứ Nhật Bản tại Việt Nam Hiroshi Fukada, Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản là cơ chế hợp tác cởi mở giúp cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam, góp phần đưa ra các chính sách tạo thuận lợi cho sự phát triển công nghiệp đi vào đời sống. Từ đó, tạo ra thuận lợi trong thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Với cơ chế này, giai đoạn VI sẽ không chỉ dừng lại ở hợp tác kinh tế mà còn cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam theo hướng thông thoáng, tự chủ hơn, giúp Việt Nam đủ cạnh tranh để tham gia vào cộng đồng kinh tế ASEAN vào cuối năm 2015.

"Tôi hy vọng Chính phủ Việt Nam sẽ đưa ra chính sách tích cực hơn trong thời gian tới để nền kinh tế Việt Nam có thể phát triển tự chủ hơn, từ đó, có nền tảng cho phát triển công nghiệp hỗ trợ, các ngành công nghiệp nền móng để sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn. Ngay trong lĩnh vực nông nghiệp, cũng cần áp dụng công nghệ để có thể phát triển nông nghiệp chất lượng cao và đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm" - ông Hiroshi Fukada nhấn mạnh.

Giúp Việt Nam tìm ra lợi thế so sánh

Liên quan liên kết chiến lược công nghiệp hóa giữa Việt Nam - Nhật Bản, hiện vẫn còn 1 lĩnh vực về ô tô chưa có kế hoạch hành động cụ thể. Về vấn đề này, Bộ trưởng Bùi Quang Vinh cho biết: Trong 6 ngành nghề được đề cập trong Sáng kiến chung,  đã có 5 ngành được Chính phủ phê duyệt kế hoạch hành động, chỉ riêng ngành công nghiệp ô tô chưa được phê duyệt, tuy nhiên, hiện Bộ Công thương đã hoàn thành dự thảo và đang xin ý kiến các đơn vị 2 bên để sớm hoàn thành sau cuộc họp hôm nay.

Lý giải sự chậm trễ, Bộ trưởng Vinh cho rằng: 5 lĩnh vực được phê duyệt tương đối rõ và có thể thực hiện được ngay, còn riêng công nghiệp ô tô là lĩnh vực khó. Thực tế, trước đây Việt Nam đã xây dựng chiến lược nhưng qua 15 năm thực hiện không thành công, nhất là dòng xe 4 chỗ ngồi. Nguyên nhân được đưa ra là do công nghiệp hỗ trợ cho ngành sản xuất ô tô của Việt Nam chưa đáp ứng nhu cầu và chưa thể cạnh tranh với các nước trong khu vực. Mặt khác, thuế và các rào cản khác cũng khiến lượng tiêu thụ ô tô của Việt Nam chưa cao. Trong thời gian ngắn, để chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô có thể đưa vào thực tiễn phải giải quyết nhiều vấn đề. Trong đó, thuế có thể giảm được nhưng còn nhiều vấn đề khác, đặc biệt là phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ là chưa thể thực hiện trong một sớm một chiều.

Việt Nam chỉ còn 3 năm tính từ nay đến 2018, sau đó, cùng với cam kết của Việt Nam với các nước ASEAN thuế suất sẽ được giảm về mức 0%. Như vậy, nếu ngành công nghiệp ô tô nội địa không thực sự nỗ lực và có bước đột phá vượt bậc thì sẽ thực sự gặp khó khăn. Thậm chí, sự khó khăn này còn thể hiện ở việc cho đến nay, dù các Bộ, ngành cùng vào cuộc song vẫn chưa tìm được giải pháp cụ thể để đến năm 2018, công nghiệp ô tô Việt Nam không bị các DN trong khu vực “đè bẹp” chứ chưa nói đến việc ngành này có thể cạnh tranh với các nước trong khu vực.

Cũng lo ngại về khả năng cạnh tranh của Việt Nam, đồng Chủ tịch Ủy ban Kinh tế Việt Nam - Nhật Bản Takahashi Kyouhei cho biết: Cuối năm 2015 sẽ hình thành cộng động kinh tế chung ASEAN, lúc đó, môi trường cạnh tranh sẽ gay gắt hơn rất nhiều. Chính vì thề, bước tiếp theo, chúng ta cần tiếp tục thực hiện sáng kiến chung giai đoạn tới để môi trường đầu tư của Việt Nam hấp dẫn hơn, tìm ra lợi thế so sánh riêng của mình. Nhật Bản cam kết sẽ tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong công cuộc này.

Và để Việt Nam có thêm lợi thế so sánh, chống tham nhũng là nội dung quan trọng mà Chính phủ đã nhận thấy rõ và ngay sau khi nhận được thông tin đã phản ứng tích cực, kịp thời. Ngoài việc xử lý cá nhân liên quan, 2 bên đã tiến hành mở rộng thanh tra các dự án ODA khác và đình chỉ Dự án của TCT đường sắt Việt Nam. Từ đó, 2 bên đang xây dựng quy định kiểm tra, kiểm toán nội bộ về các dự án sử dụng vốn ODA, xây dựng quy trình chặt chẽ để nội bộ Việt Nam có thể kiểm tra. Bên cạnh biện pháp độc lập khác, bản thân Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tiến hành thanh tra, cùng nhau xem xét sửa đổi luật lệ, vì luật mới là gốc vấn đề, luật phải xây dựng để đấu thầu, lựa chọn nhà thầu, đầu tư được minh bạch và có thể kiểm soát được.

Còn đối với Nghị định Hợp tác Công – tư (PPP), đây được cho là nghị định rất khó khi mà ngay cả khái niệm cũng chưa được thống nhất, bản thân chứa đựng nhiều vấn đề mà mỗi quốc gia lại mong muốn một lợi ích khác nhau. Hiếm có nghị định nào kéo dài thời gian như vậy nhưng lại thu hút được nhiều quan tâm của cơ quan ban ngành và doanh nghiệp, tổ chức, đối tác nước ngoài. Nhật đã tham gia ngay từ đầu và quyết liệt, thậm chí, nguyên thủ tướng Anh Tony Blair đã tham mưu cho VN xây dựng nghị định PPP. Đến nay, Dự thảo đã được gửi đi khắp thế giới để xin ý kiến, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI. Thực tế, theo Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, đây là vấn đề rất nhạy cảm khi mà phía Nhật lại muốn cho phép các Công ty tư nhân được đề xuất danh mục dự án PPP, trong khi đó, các đối tác phát triển còn lại không thống nhất, họ cho rằng điều này sẽ tạo ra sự không bình đẳng giữa các nhà đầu tư. Ngay trong nội bộ Việt Nam cũng có nhiều ý kiến trái chiều. Hiện Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã thống nhất sẽ ghi nhận và trong chừng mực nhất định có thể cho phép các công ty tư nhân chủ động giới thiệu các dự án còn quy trình đấu thầu đã có Luật và Nghị định, PPP sẽ được thực hiện theo thể thức này.

.

Sáng kiến chung Việt – Nhật giúp Việt Nam cải thiện môi trường đầu tư  ảnh 1
Ký kết Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản giai đoạn VI.

 Cũng tại cuộc họp đánh giá cuối kỳ Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn V, hai bên đã thống nhất tiến hành Lễ ký kết Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản giai đoạn VI.

(T.Hương)