Sắp được thông qua, Luật Doanh nghiệp vẫn cần sửa đổi

Chuẩn bị được đưa ra Quốc hội thông qua nhưng Luật Doanh nghiệp sửa đổi vẫn vấp phải nhiều ý kiến đánh giá vẫn chưa phù hợp với thực tiễn của doanh nghiệp Việt Nam. Theo TS Nguyễn Đình Cung, Quyền Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CEM), thời gian qua, việc thực hiện luật kém nguyên nhân là do chất lượng xây dựng luật kém. Luật Doanh nghiệp mỗi lần xuất hiện, bổ sung sửa đổi đều tạo ra sự thay đổi, có những thay đổi mang tính đột phá. Hy vọng Luật mới sẽ có tính đột phá, góp phần thúc đẩy kinh tế Việt Nam thời gian tới.

Hội thảo Hoàn thiện Dự thảo Luật Doanh nghiệp sửa đổi. Hội thảo Hoàn thiện Dự thảo Luật Doanh nghiệp sửa đổi.

Tại Hội thảo Hoàn thiện Dự thảo Luật Doanh nghiệp sửa đổi diễn ra hôm nay, ngày 10/4, Ths. Phan Đức Hiếu - Phó trưởng Ban Môi trường Kinh doanh và Năng lực cạnh tranh - Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) cho biết: Việc sửa đổi Luật lần này cũng nhằm mục tiêu đưa DN trở thành công cụ kinh doanh rẻ hơn, an toàn hơn và hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư, qua đó tăng cường thu hút và huy động hơn nữa mọi nguồn lực và vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Cụ thể, thông qua việc tạo thuận lợi hơn cho các hoạt động thành lập doanh nghiệp, đặc biệt đối với nhà đầu tư nước ngoài; tạo thuận lợi hơn, giảm chi phí cho tổ chức quản trị doanh nghiệp, cơ cấu lại doanh nghiệp; Bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, cổ đông, thành viên của doanh nghiệp; Tạo thuận lợi hơn và ít tốn kém cho doanh nghiệp, nhà đầu tư rút lui khỏi thị trường.... Mục tiêu quan trọng là giúp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.

Luật sửa đổi lần này sẽ tiếp tục kế thừa, phát huy kết quả và tác động tốt của các cải cách trong Luật Doanh nghiệp 2000 và Luật Doanh nghiệp 2005, ngoài ra sẽ khắc phục các hạn chế, bất cập của Luật bao gồm các điều khoản chưa đủ rõ ràng, chưa hợp lý hoặc không còn phù hợp với thực tiễn, chưa tương thích với thông lệ quốc tế... Ngoài ra cũng tập trung vào các vấn đề liên quan thể chế hóa các vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn như quản trị doanh nghiệp 100% sở hữu nhà nước hay doanh nghiệp xã hội.

Thuận lợi hóa hay “thả cửa” ĐKKD?

Cụ thể, về thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp, Luật Doanh nghiệp mới sẽ tiếp tục thuận lợi hóa thủ tục đăng ký kinh doanh thông qua việc áp dụng thống nhất các thủ tục của Luật Doanh nghiệp về thành lập doanh nghiệp, mua cổ phần, phần vốn góp đối với nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Theo đó sẽ tách biệt việc đăng ký thành lập doanh nghiệp và việc xin giấy phép kinh doanh đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo hướng bãi bỏ các yêu cầu về điều kiện kinh doanh tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp như yêu cầu về chứng chỉ hành nghề, xác nhận vốn pháp định. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh sẽ không ghi ngành nghề, trừ ngành nghề kinh doanh có điều kiện, nghĩa là doanh nghiệp có quyền kinh doanh mọi ngành nghề pháp luật không cấm thay vì chỉ được kinh doanh những gì đã đăng ký.

Tuy nhiên, theo LS Đinh Nhật Quang, VP Luật sư Leadco, việc tác bạch giữa thành lập doanh nghiệp và giấy phép kinh doanh, điều kiện kinh doanh theo hướng bãi bỏ các yêu cầu về điều kiện kinh doanh tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp như chứng chỉ hành nghề, vốn pháp định...Nếu thực hiện sửa đổi Luật Doanh nghiệp theo hương này, bất kỳ nhà đầu tư nào cũng sẽ được thỏa mãn “cơn khát” thành lập doanh nghiệp. Đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện, sau khi nhà đầu tư phải bỏ chi phí soạn thảo hồ sơ và đăng ký thàn lập doanh nghiệp, nộp thuế môn bài, nếu họ chưa hoặc không thỏa mãn được các điều kiện tiếp theo để kinh doanh ngành nghề có điều kiện thì sẽ được giả quyết như thế nào. Hay việc có một số doanh nghiệp sau khi đăng ký thành lập sẽ tiến hành hoạt động mà không chờ hoàn tất các điều kiện kinh doanh, gây khó khăn cho cơ quan nhà nước trong việc kiểm tra tuân thủ, và gây ra các tác động xấu tới xã hội. Do đó, theo ông Quang, dự thảo Luật Doanh nghiệp sửa đổi không nên tách bạch giữa thành lập doanh nghiệp và giấy phép kinh doanh, điều kiện kinh doanh.

Thực tế, các điều kiện kinh doanh sẽ sàng lọc các nhà đầu tư, để loại bỏ các nhà đầu tư thiếu năng lực khi tiến hành công việc kinh doanh trong các lĩnh vực kinh doanh có điều kiện. Việc gắn kết giữa thành lập doanh nghiệp và điều kiện kinh doanh không gây khó khăn và tốn kém không cần thiết cho nhà đầu tư có năng lực, ngược lại, các điều kiện kinh doanh là rào cản giúp các nhà đầu tư chưa đủ năng lực tiết kiệm chi phí, ít nhất là chi phí đăng ký doanh nghiệp, chi phí duy trì doanh nghiệp sau đăng ký, và chi phí thuế môn bài, chi phí giải thể... Rào cản này còn giúp các cơ quan nhà nước không phải “hậu kiểm” đối với các nhà đầu tư thành lập doanh nghiệp có ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Theo ông Quang, cái đáng phải sửa đổi đối với các ngành nghề kinh doanh có điều kiện là các cơ quan có thẩm quyền của Chính phủ phải liên tục, thường xuyên cập nhật các giấy phép con, các điều kiện kinh doanh để bổ sung hoặc loại bỏ các giẩy phép con, các điều kiện kinh doanh không cần thiết cho các nhà đầu tư.

Hiện nay, việc ghi và mã hóa ngành nghề khi đăng ký doanh nghiệp là hoàn toàn hợp lý, theo đó, thay vì hệ thống mã ngành nghề kinh tế hiện nay, Chính phủ sẽ ban hành hệ thống mã ngành nghề kinh doanh có điều kiện và sẽ được cập nhật, sửa đổi thường xuyên để phù hợp với môi trường kinh doanh trong từng giai đoạn cụ thể. Việc Chính phủ ban hành hệ thống mã ngành nghề kinh doanh có điều kiện là rất quan trọng. Hệ thống này sẽ giúp các cơ quan quản lý Nhà nước và nhà đầu tư tránh được rủi ro và sai lầm đáng tiếc trong việc đăng ký kinh doanh như trường hợp của nhà đầu tư Nguyễn Đình Nguyên đã được Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh cấp giấy đăng ký kinh doanh nuôi gián đất thời gian qua. Rõ ràng, do thiếu sự thống nhất giữa các cơ quan quản lý Nhà nước mà nhà đầu tư đã phải chịu rủi ro thiệt hại mặc dù việc kinh doanh đã được tiesn hành đăng ký kinh doanh theo đúng thủ tục. Một vấn đề đặt ra nữa qua vụ việc này là đối với các điều kiện dành cho ngành nghề kinh doanh có điều kiện, cần phải được nhất thể hóa trong một văn bản do Chính phủ ban hành đề cho nhà đầu tư tiện tham chiếu. Hơn nữa, nếu tách đăng ký thành lập doanh nghiệp với đáp ứng điều kiện kinh doanh sẽ gây khó khăn cho cơ quan Nhà nước trong việc quản lý và có thể gây tác động xấu tới môi trường, xã hội khi nhà đầu tư tiến hành kinh doanh khi chưa đáp ứng đủ các điều kiện cần thiết.

Thêm nữa, Luật mới sẽ áp dụng mô hình một cửa về đăng ký doanh nghiệp với thuế, lao động, bảo hiểm xã hội; Giảm được 5 thủ tục trong số 9 thủ tục đăng ký còn lại. Đây thực sự là thay đổi tương đối lớn so với hiện nay. Thủ tục đăng ký DN được cải cách nhiều nhất nhưng theo xếp hạng của quốc tế, thủ tục gia nhập thị trường của Việt Nam vẫn còn khó, thời gian làm thủ tục vẫn mất 34 ngày. Nếu Luật sửa đổi được thông qua có thể giúp giảm thời gian đăng ký doanh nghiệp xuống còn một nửa, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp gia nhập thị trường.

Ngoài ra, việc áp dụng thống nhất thời hạn phải thanh toán đủ phần vốn góp khi thành lập công ty tối đa không qua 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho mọi loại hình doanh nghiệp, sửa đổi quy định về vốn công ty cổ phần theo hướng quy định cụ thể, rõ ràng và thống nhất các khái niệm về vốn công ty cổ phần gồm cổ phần được quyền chào bán và cổ phần đã bán bằng vốn điều lệ.

Bảo vệ cổ đông nhỏ trước cổ đông lớn

Theo ông Phan Đức Hiêu, Luật Doanh nghiệp sửa đổi sẽ bổ sung quy định hợp lý, đơn giản so với quy định hiện hành về chào bán cổ phần riêng lẻ đối với công ty cổ phần không phải là công ty đại chúng. Ngoài ra bổ sung thêm mô hình quản trị doanh nghiệp theo mô hình quản trị đơn hội đồng đối với Công ty cổ phần để phù hợp với thực tiễn tốt của quốc tế và tăng thêm lựa chọn cho nhà đầu tư.

Thêm vào đó, với mục đích bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, cổ đông, thành viên của doanh nghiệp, dự thảo cũng quy định điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông lần lượt với các tỷ lệ tương ứng với lần thứ nhất, lần thứ hai, lần thứ ba là 51%, 33%, khong cần tỷ lệ vẫn họp thì rõ ràng đã tạo điều kiện cho các cổ đông thiểu số thực hiện quyền tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông được dễ dàng hơn vì các cổ đông nhỏ thì sở hữu ít cổ phần nên họ phải phối hợp với nhau để tạo thành nhóm cổ đông đạt tỷ lệ đủ điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông lần thứ hai mà không cần chờ đến lần thứ ba.

Tuy nhiên, theo Luật gia Cao Bá Khoát, Giám đốc Công ty TNHH Tư vấn doanh nghiệp K và Cộng sự, việc dự thảo quy định tỷ lệ biểu quyết để Nghị quyết, Quyết định được thông qua đối với một số nội dung là 65% và 51%, nghĩa là giảm tỷ lệ biểu quyết so với Luật Doanh nghiệp 2005, đã không thể hiện được mục đích bảo vệ cổ đông nhỏ trước cổ đông lớn. Như vậy, chỉ cần một phiếu biểu quyết của cổ đông lớn đã quyết định được việc thông qua hay không thông qua được Quyết định của Đại hội đồng cổ đông và rõ ràng việc giảm tỷ lệ như vậy đã không bảo vệ được cổ đông thiểu số. Do đó, quy định tỷ lệ càng lớn sẽ hạn chế được sự độc đoán, chuyên quyền của các cổ đông lớn, bảo vệ quyền và lợi ích cho các cổ đông thiểu số.

Thực tế có trường hợp một cổ đông sở hữu 15,5% hoàn toàn ngăn cản được việc thông qua Quyết định của Đại hội đồng cổ đông vì điều lệ quy định Quyết định của Đại hội đồng cổ đông được thông qua nếu được 85% cổ phần có quyền biểu quyết chấp nhận. Tuy nhiên, nếu quy định tỷ lệ thông qua Quyết định, Nghị quyết Đại hội đồng cổ đông cao thì vẫn phải tính đến trường hợp cổ đông nhỏ lợi dụng quyền phủ quyết của mình làm cho hoạt động của công ty đình trệ nhằm mưu cầu lợi ích riêng. Thậm chí, có những công ty mà Nhà nước chỉ năm 36% thậm chí 26% đã có quyền phủ quyết các vấn đề quan trọng gây khó khăn cho người điều hành. Hiện nay, nhiều công ty niêm yết không triệu tập được do không đủ 65% số cổ phần đến dự họp. Do vậy, việc cân nhắc để đưa ra một tỷ lệ hợp lý bảo vệ hài hòa quyền và lợi ích cho tất cả các cổ đông công ty là vô cùng cần thiết.

Vẫn liên quan đến việc đảm bảo quyền lợi của cổ đông thiểu số, theo Luật sư Khoát, việc quy định thành viên Hội đồng quản trị và thành viên Ban kiểm soát có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông nên không cần phải có điều kiện bãi miễn nào, thành viên Hội đồng quản trị vẫn bị bãi miễn. Ở đây, vấn đề là tính hợp lý của việc bãi miễn thành viên Hội đồng quản trị khi mà quy tắc bầu dồn phiếu có muc đích là đảm bảo cổ đông thiểu số cung có thể có cử người của mình tham gia Hội đồng quản trị nhằm làm cho quản trị điều hành được minh bạch. Những chính quy định về bãi miễn thành viên Hội đồng quản trị vô tình đã làm vô hiệu hóa ý nghĩa của bầu dồn phiếu. Chính vì thế, việc bãi miễn thành viên Hội đồng quản trị phải có cơ sở, điều kiện và lý do rõ ràng chứ không cho phép thành viên Hội đồng quản trị có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông để tránh tình trạng bãi miễn tùy tiện.

Để có hành lang pháp lý hoàn chỉnh để bảo vệ cổ đông thiểu số trong nội bộ doanh nghiệp, cần xây dựng cơ chế bảo vệ bằng cách tăng cường trách nhiệm giám sát doanh nghiệp của cơ quan nhà nước như Tòa án, Phòng đăng ký kinh doanh..., Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, các hiệp hội các nhà đầu tư tài chính Việt Nam (VAFI)....

(T.Hương)