Tái cấu trúc nền kinh tế: Chưa giải quyết tận gốc vấn đề

Trong hai năm qua, kết quả chủ yếu trong tái cấu trúc đầu tư công là giảm tỷ trọng đầu tư/GDP, bước đầu đổi mới cơ chế quản lý vốn đầu tư nhà nước, nhờ đó, khắc phục một bước đầu tư dàn trải, phân tán, kém hiệu quả đã tồn tại từ nhiều năm. Tuy nhiên, đó mới chỉ giải quyết các vấn đề của quá khứ hơn là tạo khung khổ pháp lý để nâng cao hiệu lực quản lý và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nhà nước trong tương lai.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Nguy cơ đầu tư dàn trải quay trở lại?

Tại Diễn đàn Phục hồi tăng trưởng và tái cơ cấu kinh tế: Cơ hội và thách thức diễn ra ngày 22/11, TS. Trần Kim Chung, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho biết: Thời gian qua, tái cơ cấu đầu tư công đã thu được những kết quả rõ nét, điển hình là trong hai năm 2012-2013 tỷ trọng đầu tư/GDP đã giảm đáng kể, từ mức bình quân 39% trong giai đoạn 2006-2010 xuống còn hơn 33% năm 2011, 30,5% năm 2012 và khoảng 30% năm 2013. Tỷ trọng đầu tư nhà nước trong tổng đầu tư xã hội giảm từ 51,8% thời kỳ 2001 - 2005, xuống còn  khoảng 39%  thời kỳ 2006-2010, 37,4% trong 2 năm 2011 - 2012 và  khoảng 37% trong 9 tháng đầu năm 2013.

Tuy nhiên, theo TS. Nguyễn Đình Cung, Phó Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế Trung ương: Tái cơ cấu đầu tư công mới chỉ giải quyết vấn đề trong ngắn hạn là xử lý thực trạng quyết định đầu tư vượt quá khả năng cân đối vốn, đầu tư dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ đã tồn tại nhiều năm thay vì tạo khung khổ pháp lý để nâng cao hiệu lực quản lý và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư nhà nước trong tương lai. Trong khi thể chế mới cho quản lý phân bố và sử dụng vốn đầu tư nhà nước chưa được thiết lập, thì có không ít dấu hiệu cho thấy nguy cơ nới lỏng chính sách tài khóa, gia tăng vốn đầu tư nhà nước và từng bước khôi phục lại đầu tư dàn trải, phân tán và kém hiệu quả là rất lớn.

Cụ thể, theo ông Cung, nguy cơ này đến từ cách tiếp cận chính thống về phục hồi tăng trưởng chưa thay đổi mà cụ thể là vẫn thiên về trọng cầu, tăng đầu tư nhà nước, khi đầu tư tư nhân còn yếu. Mặt khác, nhiều ý kiến cho rằng, cắt giảm đầu tư nhà nước quá mạnh đã gây “shock” cho nền kinh tế, là một trong các nguyên nhân làm suy giảm cầu, suy giảm kinh tế; hàng trăm dự án dở dang, không có vốn để hoàn thành gây nhiều lãng phí cho xã hội; cần phải có thêm đầu tư, ít nhất là để hoàn thành nhiều trăm dự án còn dở dang.

Hiện các địa phương nợ xây dựng cơ bản đến khoảng 91.000 tỷ đồng và có thể rồi Chính phủ trung ương sẽ phải chi trả, hoặc ít nhất sẽ cho phép chính quyền địa phương huy động trái phiếu để xử lý. Điều này có nghĩa là vốn huy động sẽ tiếp tục dành để xử lý vấn đề quá khứ, thanh toán cho một phần không nhỏ các dự án còn dở dang, hoặc đã hoàn thành nhưng kém hiệu quả. Do thể chế hành chính chia cắt, phân tán theo địa giới hành chính với mỗi tỉnh, thành phố như một nền kinh tế, nên nguy cơ tái diễn đầu tư phân tán, dàn trải và kém hiệu quả vẫn rất lớn. Hiện tượng đầu tư theo phong trào sẽ vẫn tiếp diễn. Điển hình, ngay trong những năm suy giảm kinh tế, cắt giảm đầu tư công, tái cơ cấu kinh tế, thì vẫn có thêm hai sân bay “cấp tỉnh” được bổ sung vào quy hoạch hoặc khai trương hoạt động.

“Bên cạnh tái cơ cấu đầu tư công đang còn dang dở, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước trong đó có cổ phần hóa không có nhiều tiến triển, thoái vốn gặp khó khăn trên nhiều mặt, chậm tiến độ. Điển hình, gọi là thoái vốn nhưng nhiều tập đoàn, tổng công ty chỉ bán đi những phần bị lỗ, coi như cắt lỗ mà không phải là phân phối lại nguồn lực. Tất cả đều xuất phát từ tư duy khi mà DNNN vẫn được coi là công cụ điều tiết thị trường, tức là DNNN tác động lên thị trường chứ không phải thị trường áp đặt luật chơi lên doanh nghiệp.” - TS. Nguyễn Đình Cung khẳng định.

Còn theo bà Phạm Chi Lan: “Hiện mới chỉ tập trung vào 3 trọng tâm tái cơ cấu kinh tế mà hai mảng tái cơ cấu vùng và ngành vẫn chưa được đề cập đến. Ngay cả 3 nội dung trọng tâm vẫn chưa đầy đủ, thiếu phối hợp với nhau. Nếu không tái cơ cấu vùng và ngành thì sao tập trung doanh nghiệp vào lĩnh vực cốt lõi, tránh tình trạng 63 nền kinh tế như hiện nay. Vì thiếu vắng giải pháp đồng bộ, tôi e rằng tái cơ cấu nền kinh tế sẽ không diễn ra như mong đợi.”

Khá hơn một chút, tái cơ cấu các tổ chức tín dụng cũng đã đạt được một số kết quả như đảm bảo được thanh khoản, an toàn của hệ thống đã được kiểm soát; nguy cơ gây đổ vỡ, mất an toàn hệ thống đã được đẩy lùi; các ngân hàng yếu kém đang được tái cơ cấu theo phương án đã được phê duyệt; đề án xử lý nợ xấu đã được phê duyệt; nghị định về công ty quản lý tài sản đã được ban hành, công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng (VAMC) đã được thành lập và chính thức đi vào hoạt động; đã bắt đầu khởi động việc mua lại nợ của các tổ chức tín dụng,... Tuy vậy, thông tin chính thức về kết quả tái cơ cấu các ngân hàng thương mại yếu kém nhìn chung còn ít, thường chưa được kiểm chứng. Hiện nay, tổng số nợ xấu của các ngân hàng thương mại vẫn là vấn đề còn hoài nghi bởi nhiều bên có liên quan.

Không ít ý kiến nghi ngại về cách thức “tái cơ cấu tự nguyện” vì kinh nghiệm quốc tế cho thấy không thể sử dụng những con người “gây ra vấn đề” để xử lý các vấn đề mà họ gây ra. Cùng với đó, tình trạng sở hữu chéo dưới nhiều hình thức khác nhau vẫn còn nguyên, thậm chí gia tăng do tái cấu trúc các ngân hàng yếu kém và mặc dù các công cụ xử lý nợ xấu đã được thiết lập, nhưng cách thức xử lý nợ xấu vẫn chưa đảm bảo “đưa” nợ xấu ra khỏi nền kinh tế.

Hãy để thị trường khắc nghiệt trừng phạt DN

Theo bà Phạm Chi Lan, thảo luận Hiến pháp vẫn muốn giữ khu vực kinh tế nhà nước là chủ đạo. Tuy nhiên, thực tế hiện nay là bên cạnh kỷ luật thị trường, DNNN chưa tuân thủ tốt kỷ luật nhà nước. Tái cơ cấu DNNN không thể tách rời cải cách quản lý nhà nước, nếu không cải cách quản lý nhà nước, chấm dứt cơ chế xin - cho thì khó cải cách DNNN. Bên cạnh đó, phục hồi tăng trưởng không chỉ trông chờ vào nhà nước mà khu vực tư nhân và nông nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng cho phục hồi tăng trưởng.

“Vẫn còn “ngổn ngang” và “bộn bề” trên nhiều mặt, từ nhận thức, quan điểm tư tưởng cho đến sự “lung túng” trong các giải pháp thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế. Trước hết, để tái cơ cấu DNNN cần áp đặt một số nguyên tắc thị trường như: Áp dụng giá trị trường của vốn; Nhà nước phải lấy lợi nhuận với mức ít nhất bằng giá thị trường của vốn; DNNN được tự chủ hơn trong cơ cấu lại vốn và tài sản trong khuôn khổ mục tiêu và các chỉ tiêu đã định. Đặc biệt, khi doanh nghiệp gặp khó khăn, không bảo toàn và phát triển vốn, thua lỗ không thanh toán được nợ đến hạn, không trả đủ thuế cho nhà nước…, thì người đại diện chủ sở hữu, người quản lý phải bị thay thế chứ không phải là những can thiệp của Chính phủ nhằm khoanh nợ, giảm nghĩa vụ trả nợ, bảo lãnh phát hành trái phiếu để trả nợ, giảm thuế và nghĩa vụ nộp thuế. Nói tóm lại là phải để thị trường khắc nghiệt trừng phạt bất cứ ai mắc phải lỗi lầm (dù khách quan hay chủ quan) trong quản lý và điều hành doanh nghiệp.” - TS. Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh.

Về giải pháp tái cơ cấu đầu tư công và tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, ông Cung cho rằng phải thay đổi chính sách phục hồi tăng trưởng theo hướng “trọng cung”, thay vì loay hoay “quản lý cầu”, và “tìm cách kích cầu”. Thêm nữa, phải thiết lập được quy trình thống nhất thẩm định, lựa chọn, phê duyệt và quyết định đầu tư nhằm lựa chọn được dự án đầu tư có hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất, đồng thời, thay đổi vai trò của Chính quyền địa phương, đổi mới phân cấp trung ương - địa phương trong phát triển kinh tế xã hội. Còn tái cơ cấu các ngân hàng yếu kém, xử lý nợ xấu và khắc phục tình trạng sở hữu chéo vẫn tiếp tục là các nhiệm vụ trọng tâm trong một số năm tiếp theo. Việc có một đánh giá độc lập, khách quan hơn về tiến trình, kết quả và vấn đề của tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng là rất cần thiết.

Về phía mình, TS. Trần Kim Chung cho rằng, cần tăng cường vai trò của các bên hữu quan trong giám sát đầu tư công như Quốc hội, công tác kiểm toán các dự án đầu tư công cũng như cơ chế giám sát của người dân và các tổ chức xã hội đối với hoạt động đầu tư công. Bên cạnh đó, cũng cần tin học hóa hệ thống quản lý đầu tư công và hệ thống quản lý dự án đầu tư công. Đây là một trong những ưu tiên trong giai đoạn tới để có thể nâng cao hiệu quả nguồn vốn đầu tư công. Tránh thất thoát lãng phí và không quan lý được. Tiến tới, đảm bảo có thể tiếp cận đến các dự án đầu tư công một cách nhanh chóng và nắm vững tình trạng của dự án đầu tư công.

(T.Hương)