Tái cơ cấu đầu tư công: Chậm và chắp vá

Cho đến nay vẫn chưa có một kế hoạch tổng thể về tái cơ cấu đầu tư công. Có thể nói, nếu không có các khuôn khổ thể chế đủ mạnh thì các điều chỉnh đầu tư như cắt, giảm chỉ mang tính chắp vá.

Ảnh: THẢnh: TH

Thực chất là “liệu cơm gắp mắm”

Tại Hội thảo Giải pháp Tái cơ cấu đầu tư công trong khuôn khổ đổi mới mô hình tăng trưởng do Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương tổ chức ngày 7/11, GS.TS KH Nguyễn Quang Thái cho rằng, cần phải xây dựng mô hình tăng trưởng mới là do hiệu quả kinh tế của các khu vực kinh tế đều kém đi. Khi nói về tái cơ cấu đầu tư, có thể thấy ở cả khu vực FDI, tư nhân hay Nhà nước đều có đầu tư thiếu hiệu quả.

Nếu nói triển khai tái cơ cấu đầu tư công làm chậm thì cũng không sai. Cho đến nay vẫn chưa có một kế hoạch tổng thể về tái cơ cấu đầu tư công. Ngay các công trình quan trọng trong 10 năm nữa xử lý thế nào cũng chưa có một phương án toàn diện. Có thể nói, nếu không có các khuôn khổ thể chế đủ mạnh thì các điều chỉnh đầu tư chỉ mang tính chắp vá. Tái cơ cấu đầu tư công là tình thế buộc phải thế, do nền kinh tế không có tiền, Chính phủ phải “liệu cơm gắp mắm” chứ thực sự không phải là nhu cầu tự thân. Câu hỏi đặt ra là nếu có nhiều tiền hơn có cần tiếp tục tái cơ cấu không?

Hiện nay, mỗi địa phương có một nhu cầu riêng, việc thu hẹp đầu tư công cũng rất khó, không thể cứ nói dừng là dừng được. Trong điều kiện khó khăn đó, tình trạng đầu tư công và toàn bộ đầu tư của đất nước thiếu hiệu quả, chưa được chỉnh sửa quyết liệt trong điều kiện thiếu thể chế, gắn bó đầu tư công trong cải tổ toàn bộ nền tài chính công, thưc hiện phân cấp trong hệ thống thống nhất, chứ không phải “băm” nhỏ nền kinh tế và triệt tiêu tình trạng tham nhũng, lãng phí. Thêm vào đó, quan điểm về chức năng của Nhà nước cũng như vai trò của Chính phủ thực hiện đầu tư công như “vốn mồi” chưa được thông suốt. Vẫn còn tình trạng mong dùng vốn nhà nước, DNNN là lực lượng để can thiệp giữ ổn định, không đúng cả về lý luận và thực tiễn.

Trên thực tế, khi phải giảm tổng đầu tư thì tỷ trọng vốn Nhà nước lại tăng lên vượt 40%, tiếp sức nền kinh tế, do bố trí từ nhiều nguồn, gây nợ công tăng nhanh. Khi ngân sách khó khăn, Nhà nước đã tăng vốn vay đến hơn 1/3, phần lớn là vay trong nước với lãi suất cao, thời hạn ngắn, gây căng thẳng cho việc bố trí vay trả nợ (vượt 26% tổng thu ngân sách). Cơ cấu vốn đã được bố trí khá hơn, nhưng cần tập trung nhiều hơn cho nông lâm ngư, phát huy tiềm năng thế mạnh.

“Tình trạng phân cấp đến khoán trắng nên dù ban đầu có khoảng 50% được phân về địa phương, kết hợp với ủy quyền thì chỉ 30% ngân sách Trung ương quản lý sẽ tự đầu tư còn lại là địa phương quản lý đầu tư. Nếu có bố trí 2% ngân sách để vào KHCN và 1% vào môi trường thì chưa chắc số tiền này đã được địa phương sử dụng đúng mục đích. Các địa phương cũng có những ưu tiên khác với quốc gia nên việc thực hiện mục tiêu đã bị lệch đi. Mặt khác, do cân đối đầu tư trung hạn, nhưng toàn bộ tài chính công thì vẫn làm từng năm. Thành ra, trong điều kiện kinh tế chưa ổn định vững chắc thì các dự kiến 5 năm, xây dựng kế hoạch đầu tư “trượt”, nghe thì hay nhưng sẽ hành động khó vì thiếu đồng bộ. Kế hoạch vay trả nợ cũng là tính vĩ mô cho 5 - 10 năm” -  GS.TS KH Nguyễn Quang Thái chỉ ra.

Nợ công là do đầu tư công kém hiệu quả

TS Lê Hải Mơ, Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách tài chính, Bộ Tài chính cho biết: Theo Luật quản lý nợ công, nợ công bao gồm nợ của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và vay nợ của chính quyền địa phương. Quy mô nợ công tăng rất nhanh, tỷ trọng dư nợ công/GDP trong thời gian qua liên tục tăng qua từng năm. Cụ thể, tổng số nợ công năm 2011 bằng 50% GDP, các năm 2012, 2013 lần lượt là 50,8% GDP, 54,2% GDP. Dự kiến năm 2014 là 60,3% GDP. Với mức thâm hụt 5,3% năm 2014, 5% năm 2015 thì dự báo tổng số nợ công/GDP năm 2015 là 64,5% GDP. Nếu tính cả 85.000 tỷ trái phiếu thì mức thâm hụt lên tới 7%. Đáng chú ý, tuy đầu tư trực tiếp từ NSNN có xu hướng giảm song đầu tư công đã có xu hướng mở rộng quy mô phát hành trái phiếu Chính phủ mà bản chất của trái phiếu Chính phủ chính là bội chi NSNN và nằm trong tổng nợ công.

Trong cơ cấu nợ công, nợ Chính phủ chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đến là nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương. Tính đến cuối năm 2013, nợ Chính phủ chiếm 78,1%, nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm 20,4% và nợ chính quyền địa phương là 1,5%. Điều đáng chú ý là toàn bộ nợ công của Việt Nam chủ yếu tập trung vào đầu tư phát triển thay vì chi tiêu như thông lệ quốc tế. Do đó, việc tăng đầu tư công gắn với quản lý sử dụng kém hiệu quả là nguyên nhân chính làm tăng nợ Chính phủ.

Nợ Chính phủ bảo lãnh bao gồm nợ bảo lãnh vay trong nước và bảo lãnh vay nước ngoài cho DNNN tăng lên từ 4% tổng dư nợ công năm 2001 lên 20,4% năm 2013. Trong đó, nợ bảo lãnh vay trong nước chiếm 52,58%, bằng 5,8% GDP năm 2013, tập trung cho các đối tượng như NHPT Việt Nam, NH Chính sách xã hội Việt Nam, bảo lãnh vay từ các NHTM trong nước cho các dự án trọng điểm. Còn nợ bảo lãnh vay nước ngoài chiếm 47,42%, bằng 5,2% GDP năm 2013, tập trung chủ yếu vào ngành điện, hàng không, xi măng, dầu khí, giấy và các chương trình, dự án ưu tiên được xét cấp bảo lãnh.

Câu hỏi được nhiều người quan tâm là tại sao nợ lại tăng nhanh và quy mô lớn như thế? Theo báo cáo của Chính phủ về tình hình kinh tế - xã hội 2014, tỷ lệ trả nợ trực tiếp từ ngân sách hiện tương đương mức 14,2% vẫn trong chiến lược Quản lý nợ công là không quá 25%. Tuy nhiên, nếu tính cả phần vay đảo nợ, trả lãi vay thì con số này hiện đã ở mức 26,2% tổng chi NSNN. Trong khi đó, thu NSNN có xu hướng giảm, dự báo năm 2014 là 22%. Mặt khác, tốc độ tăng GDP thấp hơn dự kiến, quy mô GDP tăng chậm, quy mô vay để đầu tư tăng nhanh, nhất là trái phiếu chính phủ...

Trước lo ngại về an toàn nợ công, TS Lê Hải Mơ khẳng định: An toàn nợ công không chỉ phụ thuộc vào mấy con số mà thế giới căn cứ vào các chỉ số cảnh báo nợ công. Về thực chất, cần đánh giá hiệu quả sử dụng nợ công đem lại cho nền kinh tế như thế nào, và cụ thể ở đây là tốc độ tăng trưởng kinh tế. Nguồn thu tài chính tốt hơn sẽ là điều kiện để trả nợ công. Rốt cục để giải quyết vấn đề này, cốt lõi là phải quay lại đầu tư công hiệu quả. Đã có thời kỳ đầu tư công đóng vai trò tích cực do nhu cầu sử dụng là thực sự có, chỉ có điều việc phân bổ, chia sẻ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân không có điểm chung.

Tái cơ cấu đầu tư công trong thời gian qua đã đạt được những kết quả bước đầu như cắt giảm công trình không cần thiết, DNNN thoái vốn, vốn đầu tư mới được bố trí tập trung không dàn trải như trước... song chưa đạt được sự chuyển biến về chất, chưa thay đổi được cơ cấu đầu tư xã hội, cần thay thế bằng cách đưa đầu tư tư nhân lên làm chủ đạo. Đầu tư công, nợ công là hậu quả của chính sách vì thế giải quyết vấn đề thì phải quay lại cái gốc của vấn đề là nhận thức lại cho thật đúng vai trò nhà nước, kinh tế nhà nước, DNNN... Xác định lại căn bản phạm vi, lĩnh vực cần có mặt của kinh tế nhà nước DN và đầu tư công. Chìa khóa giải quyết 2 vấn đề này là tái cơ cấu cơ bản cơ cấu, quy mô chi NSNN, hệ thống quỹ ngoài ngân sách. Đặc biệt là thực hiện giới hạn ngân sách cứng về thâm hụt NSNN theo tỷ lệ tương ứng 4-4-3-2% vào năm 2020. Tiếp đó là điều chỉnh nợ công theo hướng giảm, tiến tới bỏ hẳn bảo lãnh cho doanh nghiệp, địa phương, vay để lại trước năm 2020, đồng thời, phát triển thị trường trái phiếu chính phủ dài hạn (10 - 15 năm) với lãi suất thấp nhằm ổn định vững chắc khuôn khổ vĩ mô, tăng huy động vốn bằng VND để giảm sự lệ thuộc vào vốn vay bên ngoài.

(T.Hương)