Tái cơ cấu tài chính trong thời kỳ ngăn chặn suy giảm kinh tế

Suy thoái kinh tế toàn cầu và suy giảm kinh tế ở nước ta là cơ hội để chúng ta thấy rõ hơn những khiếm khuyết trong cơ cấu kinh tế, trong đầu tư và trong tài chính đang cản trở sự phát triển nhanh và bền vững của nền kinh tế nước ta.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Ðây là yêu cầu cấp bách và cũng là thời điểm tốt để Việt Nam tái cơ cấu kinh tế trong đó có tái cơ cấu tài chính nhằm giúp Việt Nam có thể trụ vững và tiếp tục phát triển ngay sau khi ra khỏi tình trạng suy giảm kinh tế.

Những khiếm khuyết trong cơ cấu kinh tế
 
Mô hình phát triển của nền kinh tế nước ta trong nhiều năm qua là mô hình hướng ngoại, dựa nhiều vào xuất khẩu (khoảng 60 - 70% GDP), nhập khẩu (hơn 90% GDP) và thu hút đầu tư nước ngoài (vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài chiếm 16% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội của những năm 2000-2005 và hơn 20% những năm gần đây. Nếu tính cả đầu tư gián tiếp thì tỷ lệ này lên đến 30%). Thu ngân sách nhà nước từ thu nội địa chỉ chiếm hơn 50%, còn lại là thu từ dầu thô và thuế xuất nhập khẩu. Mô hình này chỉ có thể phù hợp trong điều kiện bình thường, nhưng lại khiến nền kinh tế và nền tài chính, tài khóa trong nước bị tổn thương khi kinh tế thế giới có sự biến  động và lâm vào tình trạng bất ổn.

Tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong nhiều năm qua chủ yếu tăng trưởng theo chiều rộng. Sự gia tăng của yếu tố năng suất tổng hợp còn quá nhỏ. Theo tính toán nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 1998-2002 là 6,2% thì yếu tố năng suất tổng hợp chỉ đóng góp 1,4%; giai đoạn 2003-2008 có tăng hơn cũng chỉ đạt 2,07% trong mức tăng trưởng kinh tế bình quân 7,89%/năm. Ðiều đó chứng tỏ chất lượng tăng trưởng chưa cao, chưa tăng trưởng theo chiều sâu. Sự gia tăng của chất lượng lao động, chất lượng máy móc, công nghệ, vai trò quản lý và tổ chức sản xuất chưa tương xứng trong mức tăng trưởng kinh tế (GDP). Trình độ công nghệ ở Việt Nam thấp so với nhiều nước trong khu vực. Yếu tố đóng góp chủ yếu cho tăng trưởng kinh tế là vốn và lao động. Vốn đầu tư toàn xã hội đã lên đến hơn 40% GDP, có năm đã là 44%. Ðó là tỷ lệ khá cao và khó mà cao hơn được nữa. Rõ ràng, nguồn vốn dành cho đầu tư  ngày càng lớn nhưng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư có chiều hướng giảm thấp vào những năm gần đây. Hệ số ICOR năm 2005 là 4,6; năm 2006 là 5,01, 2007 là 5,20, năm 2008 là 6,66. Có nhà kinh tế đã tính toán hệ số ICOR tính theo vốn đầu tư thực hiện toàn nền kinh tế là 5,2 thì riêng kinh tế nhà nước là 7,8, trong khi kinh tế ngoài nhà nước là 3,2. Yêu cầu nâng cao hiệu quả sử dụng vốn rất cấp bách. Ðể đạt được mục tiêu đó cần phải tái cơ cấu vốn đầu tư, tái cơ cấu đầu tư ngay từ bây giờ và chuẩn bị cho Việt Nam ngay sau khi ra khỏi suy thoái. Cũng cần phải nói thêm là khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế nước ta (nhất là vốn FDI) còn quá thấp, các nút thắt tăng trưởng như cơ sở hạ tầng giao thông, điện, chất lượng nguồn nhân lực vẫn chưa đáp ứng được sự phát triển của nền kinh tế. 

Trong suy thoái kinh tế, các yếu kém của tài chính nhà nước đã bộc lộ khá rõ, nhất là yếu kém về quản lý và tính minh bạch. Sự lãng phí và thất thoát ngân quỹ nhà nước diễn ra ngày càng phức tạp. Chất lượng và hiệu quả sử dụng ngân quỹ nhà nước có xu hướng giảm. Nguồn thu của ngân sách nhà nước năm 2009 và có thể cả những năm tiếp theo có nguy cơ hụt giảm do tác động của cả ba nhóm yếu tố là suy giảm kinh tế; giá dầu thô giảm và thực hiện các giải pháp miễn, giảm, giãn thuế các loại. Thu ngân sách giảm, nhưng chi ngân sách vẫn duy trì ở mức đã được duyệt, thậm chí có không ít nhu cầu, nhiệm vụ chi mới, trong khi nguồn dự trữ quá mỏng, buộc chúng ta phải tăng mức bội chi ngân sách và nguồn bù đắp bội chi là các khoản vay trong nước và ngoài nước, trong đó chủ yếu vay trong nước. Vấn đề đặt ra là từng bước cơ cấu lại các khoản chi, bảo đảm chi ngân sách nhà nước tập trung cho những mục tiêu và nhiệm vụ chính trị, cho phát triển và duy trì hạ tầng kinh tế, cắt giảm mạnh những khoản chi chưa thật cần thiết. Xã hội hóa nhiều hoạt động kinh tế và xã hội, thay đổi căn bản cơ cấu chi ngân sách nhà nước.

Giải pháp tái cơ cấu tài chính

Một là, cơ cấu lại toàn bộ nền tài chính quốc gia, trong đó tập trung cơ cấu lại các thành phần cấu thành của nền tài chính. Tăng tiềm lực tài chính quốc gia, trong đó tập trung tăng tiềm lực tài chính doanh nghiệp và tài chính dân cư. Giảm dần tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách nhà nước, duy trì một tỷ lệ động viên hợp lý, dưới 20%, dần tiến tới khoảng 15-16%. Huy động mọi nguồn lực và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn ngân quỹ của nhà nước cho đầu tư phát triển. Tiếp tục hoàn thiện luật pháp và tăng cường kỷ cương, kỷ luật trong quản lý và sử dụng tài chính nhà nước, ngân quỹ quốc gia. Sớm ban hành luật tài chính nhà nước để điều chỉnh các hoạt động tài chính nhà nước, quản lý và sử dụng ngân quỹ quốc gia.

Hai là, tái cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế bao gồm cơ cấu lại ngành nghề, vùng, lãnh thổ, sản phẩm, nguồn nhân lực và các loại thị trường... tạo cơ sở cơ cấu lại một cách căn bản nền tài chính quốc gia.

Ba là, cơ cấu lại ngân sách nhà nước theo hướng lành mạnh, tích cực.

Về thu ngân sách nhà nước cần tăng tỷ trọng thu từ nội bộ nền kinh tế, tăng tỷ trọng thuế trực thu, giảm tỷ trọng thuế gián thu tạo sự ổn định, bền vững thu NSNN. Giảm tỷ lệ huy động vào NSNN thông qua chính sách phân phối thu nhập và cải cách thuế, phí, lệ phí...

Về chi ngân sách nhà nước, tăng chi và tập trung chi đầu tư hạ tầng cơ sở, chi phúc lợi, an sinh xã hội; giảm bớt chi hành chính. Thu hẹp phạm vi trang trải của ngân sách, mở rộng phạm vi xã hội hóa, phối hợp công và tư (mô hình PPP) trong hoạt động dịch vụ công.

Bốn là, cơ cấu lại đầu tư và vốn đầu tư phát triển. Trước hết cơ cấu lại nguồn vốn đầu tư, phát huy tối đa nguồn lực trong nước, tận dụng mọi nguồn ngân quỹ. Tranh thủ và sử dụng có chọn lọc các nguồn đầu tư từ bên ngoài. Không tiếp nhận các nguồn vốn bằng mọi giá. Tăng khả năng hấp thụ vốn.  Cần tập trung đầu tư có trọng điểm, chấm dứt đầu tư dàn trải, dở dang kéo dài, chậm đưa các công trình, dự án vào sử dụng, khai thác. Cần tính toán kỹ khả năng khai thác và hoàn trả vốn khi quyết định đầu tư. Tập trung tháo gỡ các nút thắt tăng trưởng kinh tế, như cơ sở hạ tầng giao thông, điện, chất lượng nguồn lực, cơ chế, thủ tục hành chính... Tăng hiệu quả và chất lượng đầu tư.

Năm là, tăng tiềm lực tài chính doanh nghiệp và tài chính dân cư. Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước. Xem xét và đơn giản hóa thủ tục phá sản doanh nghiệp theo Luật Phá sản. Mạnh dạn làm thủ tục phá sản cho những doanh nghiệp có dấu hiệu mất khả năng thanh toán. Nâng cao chất lượng quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Tổ chức lại và hoàn thiện mô hình tổ chức và mô hình quản lý các tập đoàn kinh tế. Ðối với tài chính dân cư, cần có chính sách cụ thể, ổn định khuyến khích nhân dân đầu tư, khuyến khích làm giàu. Tiếp tục đẩy mạnh chương trình xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm mới và các chương trình đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn.

Sáu là,  tái cơ cấu các khoản nợ chính phủ, nợ quốc gia. Duy trì và lành mạnh hóa tài chính nhà nước. Duy trì tỷ lệ nợ ở mức an toàn hợp lý. Bảo đảm khả năng trả nợ cả trước mắt và lâu dài. Sử dụng linh hoạt, có hiệu quả các khoản ngân quỹ tạm thời nhàn rỗi của nhà nước. Tính toán kỹ mức vay, thời điểm vay và chỉ vay khi thật sự cần thiết và khi đã xác định được chắc chắn địa chỉ, mục tiêu đầu tư, đủ điều kiện giải ngân. Chủ động bố trí nguồn vốn để trả nợ, thanh toán nợ đúng hạn và duy trì hợp lý quỹ tích lũy trả nợ...

Tóm lại, thách thức luôn đan xen thời cơ. Trong suy thoái cần tìm ra giải pháp cho kinh tế - tài chính phát triển bền vững. Biện pháp tốt nhất là sớm tái cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế, trong đó trước hết là cơ cấu lại tài chính nhà nước và rộng hơn là cả nền tài chính quốc gia.

(Theo Nhân Dân)