Tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế còn chậm

Tái cơ cấu tổng thể nền kinh tế được tích cực triển khai thực hiện song vẫn còn chậm. Năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh còn thấp. Tốc độ đổi mới công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Tái cơ cấu trên tất cả các lĩnh vực

Luật Đầu tư công được ban hành đã góp phần đổi mới quản lý đầu tư theo kế hoạch trung hạn. Tập trung vốn cho các công trình quan trọng, cấp thiết, sớm hoàn thành đưa vào sử dụng, khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải. Quyết định đầu tư phải xác định được nguồn và khả năng cân đối vốn. Tăng cường xử lý nợ đọng xây dựng cơ bản, kiểm soát chặt chẽ các dự án khởi công mới. Hoàn thiện cơ chế chính sách, nhất là các hình thức hợp tác công - tư để thu hút các nguồn vốn đầu tư ngoài nhà nước.

Đẩy mạnh thực hiện Đề án cơ cấu lại các tổ chức tín dụng. Cơ bản hoàn thành tái cơ cấu các ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém, giảm 7 tổ chức tín dụng, năng lực tài chính của ngân hàng thương mại tăng lên, an toàn hệ thống được bảo đảm. Đã xử lý 53,6% tổng số nợ xấu được xác định trong Đề án bằng thu hồi nợ, tái cơ cấu nợ, sử dụng dự phòng rủi ro và mua lại nợ xấu qua Công ty quản lý tài sản (VAMC). Đến hết tháng 9/2014 đã xử lý trên 53,6% tổng số nợ xấu thông qua thu nợ, bán phát mại tài sản đảm bảo, bán nợ, cơ cấu lại nợ và sử dụng dự phòng rủi ro; trong 9 tháng VAMC đã mua trên 50 nghìn tỷ đồng (tổng số nợ xấu đã mua lũy kế đến nay khoảng 90 nghìn tỷ đồng). Số dư quỹ dự phòng rủi ro của các tổ chức tín dụng tính đến tháng 8/2014 là 78,5 nghìn tỷ đồng để tiếp tục xử lý nợ xấu. Tính bình quân chung, giá trị tài sản bảo đảm cao gấp hơn 2 lần số nợ vay. Tỷ lệ an toàn vốn của hệ thống các tổ chức tín dụng tại thời điểm tháng 8/2014 là 12,42% (quy định pháp luật tối thiểu là 9%). Cơ cấu nguồn vốn của các tổ chức tín dụng dịch chuyển theo hướng ổn định hơn và ít phụ thuộc vào thị trường liên ngân hàng; trong đó tỷ lệ huy động trên thị trường liên ngân hàng trong tổng huy động giảm từ 17,9% vào tháng 12/2012 còn 15,6% vào tháng 12/213 và 13,73% vào tháng 9/2014.

Mặt khác, công tác tăng cường quản lý và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước cũng được đẩy mạnh, tập trung vào cổ phần hóa, thoái vốn đầu tư ngoài ngành, nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Ban hành các cơ chế chính sách tháo gỡ vướng mắc trong cổ phần hóa và thoái vốn. Trong kế hoạch cổ phần hóa 432 doanh nghiệp giai đoạn 2014 - 2015, qua 9 tháng đã cổ phần hóa 71 doanh nghiệp (gần bằng cả năm 2013 là 74 doanh nghiệp) và đã công bố giá trị 123 doanh nghiệp, dự kiến cả năm sẽ cổ phần hóa khoảng 200 doanh nghiệp. Thoái vốn đầu tư ngoài ngành 9 tháng đạt 3.500 tỷ đồng, gấp 3,6 lần cả năm 2013. Hầu hết các tập đoàn, tổng công ty nhà nước làm ăn có lãi, vốn chủ sở hữu được bảo toàn và phát triển, đóng góp vào ngân sách nhà nước tăng. Đang triển khai thực hiện tái cơ cấu các công ty nông, lâm nghiệp theo Nghị quyết của Bộ Chính trị. 

Trong 9 tháng đã sắp xếp 92 doanh nghiệp nhà nước, trong đó cổ phần hóa 71, giải thể 2, bán 1, sáp nhập 15 và đề nghị phá sản 3 doanh nghiệp. Trong kế hoạch cổ phần hóa 432 doanh nghiệp giai đoạn 2014-2015, đã có 368 doanh nghiệp thành lập được Ban chỉ đạo, 257 doanh nghiệp đang xác định giá trị doanh nghiệp, 123 doanh nghiệp đã có quyết định công bố giá trị doanh nghiệp,  71 doanh nghiệp đã được cổ phần hóa, trong đó có 35 doanh nghiệp đã bán đấu giá cổ phần lần đầu trên sàn giao dịch chứng khoán.

Năm 2013, tổng tài sản của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước tăng 10,4% so với năm 2012; vốn chủ sở hữu tăng 15%; doanh thu tăng 5%; 101/108 tập đoàn, tổng công ty nhà nước có lãi; lợi nhuận trước thuế tăng 21%; tỷ suất lợi nhuận bình quân trên vốn chủ sở hữu 17,6%; nộp ngân sách nhà nước tăng 25%; hệ số nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu là 1,59 lần (theo quy định của pháp luật không quá 3 lần).

Trong 6 tháng đầu năm 2014, tổng doanh thu của các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đạt 50,5%; tổng lợi nhuận trước thuế đạt 57,1%; tổng số nộp ngân sách nhà nước đạt 54,1% kế hoạch cả năm.

Vận tải hàng hóa 9 tháng ước tăng 5,2%; luân chuyển hàng hóa tăng 1,2%; vận chuyển hành khách tăng 7,1%, trong đó qua đường hàng không tăng 8,5%. Doanh số thương mại điện tử bán lẻ tăng 35%. Doanh thu du lịch tăng 17,4%.

Tổng doanh thu công nghiệp công nghệ thông tin đạt khoảng 27 tỷ USD, tăng khoảng 17%. Số thuê bao điện thoại đạt khoảng 130 triệu, mật độ thuê bao đạt 148 máy/100 dân. Tỷ lệ phủ sóng di động đạt 94% dân số. Số lượng điểm phục vụ bưu chính công cộng đạt trên 13 nghìn điểm.

Song vẫn chậm...

Tái cơ cấu kinh tế vẫn còn chậm. Năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh còn thấp. Tốc độ đổi mới công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu. Công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm. Tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo và tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP còn thấp so với các nước trong khu vực. Doanh nghiệp trong nước chưa tham gia được nhiều vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới chưa đạt mục tiêu đề ra. Tái cơ cấu đầu tư công một số nơi triển khai chậm, nợ đọng xây dựng cơ bản vẫn còn lớn; việc thu hút đầu tư ngoài nhà nước vào phát triển kết cấu hạ tầng còn hạn chế. Vẫn còn một số tổ chức tín dụng yếu kém. Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước hiệu quả chưa cao. Hiệu quả kinh doanh của nhiều doanh nghiệp nhà nước còn thấp. 

Theo Ngân hàng Phát triển châu Á, tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo và khu vực dịch vụ trong GDP năm 2013 của Việt Nam là 17,5% và 43,3%; Thái Lan là 29,1% và 50,7%; Malaysia là 23,9% và 50,1%; Indonesia là 23,7% và 39,9%; Phillipines là 20,4% và 57,6%; Trung Quốc là 37,0% và 46,1%.

Chính vì vậy, thời gian tới cần tiếp tục thực hiện Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế và tái cơ cấu ngành, lĩnh vực. Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và đổi mới công nghệ, phát triển kinh tế xanh; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và nền kinh tế; tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Thực hiện khẩn trương, chặt chẽ tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Hoàn thành kế hoạch cổ phần hóa và thoái vốn đầu tư ngoài ngành. Bán phần vốn nhà nước trong các doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ cổ phần chi phối. Đến hết năm 2015, sẽ hoàn thành việc cổ phần hóa 432 doanh nghiệp nhà nước và thoái vốn đầu tư ngoài ngành theo Đề án đã được phê duyệt. Nâng cao năng lực quản trị và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Tiếp tục hoàn thiện thể chế, tăng cường quản lý nhà nước và quản lý của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước. Khuyến khích xã hội hóa trong sản xuất kinh doanh; phát triển nhanh doanh nghiệp tư nhân và kinh tế hợp tác.

Triển khai Luật Đầu tư công, thực hiện kế hoạch đầu tư trung hạn. Đổi mới cơ chế chính sách, đa dạng hóa hình thức đầu tư (BOT, BT, PPP), phát triển mạnh thị trường vốn trong nước và chủ động tham gia thị trường vốn quốc tế, huy động các nguồn lực để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội. Tập trung đầu tư hạ tầng giao thông, thủy lợi, điện, nước, logistics, nhất là các công trình có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế vùng và cả nước. Tăng cường phân cấp và xã hội hóa việc khai thác, bảo trì kết cấu hạ tầng.

Tiếp tục cơ cấu lại các tổ chức tín dụng; nâng cao năng lực tài chính, năng lực quản trị và chất lượng tín dụng; giảm thiểu rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống. Hoàn thành Đề án cơ cấu lại các tổ chức tín dụng. Đẩy mạnh xử lý nợ xấu, phát triển thị trường mua bán nợ. Có cơ chế phù hợp để hoàn thiện chức năng, tăng thêm nguồn lực, nâng cao hiệu quả hoạt động của Công ty quản lý tài sản (VAMC). Bảo đảm đến hết năm 2015 đưa nợ xấu về mức khoảng 3% như kế hoạch đề ra.

(T.Hương)