Tận dụng dân số vàng để vượt “bẫy thu nhập trung bình”

Việt Nam đang ở thời kỳ dân số vàng, tuy nhiên, tốc độ tăng nhanh của dân số trong độ tuổi lao động sẽ trở thành gánh nặng nếu không giải quyết được vấn đề việc làm, có tỷ lệ thất nghiệp cao và năng suất lao động thấp.

Ảnh: TH.Ảnh: TH.
Thách thức cho nền kinh tế
 
Tại Hội thảo “Phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện cơ cấu dân số vàng ở Việt Nam” do Ban Kinh tế Trung ương tổ chức ngày 24/12, các chuyên gia đều đánh giá, cơ cấu dân số vàng thực sự là cơ hội để sử dụng nguồn lao động dồi dào cho tăng trưởng và phát triển kinh tế, tạo cơ hội cho tích lũy nguồn lực để tăng đầu tư cho an sinh xã hội, y tế, giáo dục, việc làm trong tương lai. Lực lượng lao động trẻ, dồi dào và tiếp tục tăng sẽ là nguồn lực quan trọng cho việc phát triển kinh tế nếu đảm bảo đủ việc làm và cải thiện được năng suất lao động. Cơ cấu dân số vàng cũng là cơ hội dịch chuyển lao động thông qua di cư, tạo động lực phát triển kinh tế xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo nhành và bền vững.
 
Tuy nhiên, Việt Nam có lực lượng lao động đông nhưng chất lượng chưa cao do thiếu lao động có tay nghề cao, sức bền còn hạn chế, kỹ năng quản lý còn nhiều bất cập. Năm 2012 chỉ có 16,6% dân số 15 tuổi trở lên được đào tạo, tức là có bằng cấp chuyên môn kỹ thuật. Bên cạnh đó, chất lượng giáo dục, đào tạo nghề chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu thị trường lao động.
 
Theo GS.TS Nguyễn Đình Cử, 90 triệu dân sẽ tạo một áp lực toàn diện lên sự phát triển của Việt Nam trên các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường. Điều này đặt ra bài toán việc làm, đào tạo nâng cao chất lượng lao động và sức ép lên hệ thống y tế, giáo dục. Cơ cấu dân số vàng tạo ra một áp lực rất lớn không chỉ trong việc tạo công ăn việc làm, bảo hiểm xã hội, mà còn trong các vấn đề như an ninh trật tự, an ninh lương thực, chăm sóc sức khỏe cộng đồng, giáo dục... Nếu dân số tăng 1% thì kinh tế phải tăng thêm 3-4% mới đảm bảo xã hội phát triển liên tục và bền vững.
 
Có thể nói, nếu tạo đủ việc làm cho lao động và lao động có năng suất cao sẽ phát huy được thời kỳ dân số vàng, tránh được “bẫy thu nhập trung bình”, có khả năng “giàu trước khi già”. Hiện nay, Việt Nam đã chính thức gia nhập các quốc gia già hóa dân số từ năm 2011 và dự tính đến năm 2039, Việt Nam chính thức là dân số già khi tỷ lệ người trên 65 tuổi là 14,75%. Do đó, ngay từ lúc này cần tận dụng quy mô dân số vàng với dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh, muốn vậy phải nâng cao chất lượng đội ngũ lao động vàng bằng cách tích cực đầu tư vào khoa học kỹ thuật, đồng thời chuẩn bị thích ứng với dân số già, hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội và điều chỉnh mô hình tăng trưởng, dùng hàm lượng chất xám từ nguồn nhân lực cao.
 
Tăng hàm lượng chất xám
 
Nhìn chung, theo đánh giá của TS. Vũ Đình Ánh, khoa học công nghệ của nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, tụt hậu khá xa so với thế giới và khu vực mà một phần nguyên nhân là do chúng ta thiếu cán bộ giỏi và các “tổng công trình sư” và thiếu hụt đội ngũ kế cận. Thống kê của Bộ Khoa học và Công nghệ cho thấy, cuối năm 2010 cả nước có 1.513 tổ chức khoa học và công nghệ, số người làm nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ có 60.543 người. Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của đội ngũ này được đánh giá là chưa đáp ứng được yêu cầu. Mới đây, trong báo cáo chỉ số Đổi mới toàn cầu năm 2013 do WIPO thực hiện, Việt Nam chỉ đứng 76/142 quốc gia được khảo sát. Theo WIPO, dường như Việt Nam đang dần thụt lùi về nửa dưới bảng xếp hạn của thế giới và các nước láng giềng về chỉ số đổi mới/ sáng tạo. Trong khi nước ta có đội ngũ trí thức rất lớn nhưng vị thế của nền khoa học lại không tương xứng khi theo báo cáo tình hình khoa học thế giới do UNESCO thực hiện, có 145 quốc gia được xếp hạng về kinh tế tri thức thì Việt Nam ở vị trí 106/145.
 
Để nâng cao giá trị gia tăng khi hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu cần thúc đẩy vai trò của khoa học và công nghệ dựa trên quá trình sáng tạo - đổi mới thông qua các loại hình công nghệ, dịch vụ và nhanh chóng vượt qua khâu lắp ráp, gia công. Hiện các doanh nghiệp xuất khẩu phần mềm Việt Nam đang đứng trước rất nhiều cơ hội kinh doanh lớn đến từ thị trường Nhật Bản, Mỹ, Châu Âu, Singapore, đặc biệt là những cơ hội gắn với xu hướng phát triển của công nghệ mới... Nhưng chưa khi nào chúng ta đứng trước những dự án quy mô lớn mà lại không có đủ nhân lực để triển khai như hiện nay. Một nguyên nhân của tình trạng này là các trường đại học, cao đẳng chỉ đào tạo kiến thức cơ bản mà không đi sâu vào làm chủ những công nghệ mới như công nghệ di động, đám mây...
 
Do đó, Việt Nam cần thực hiện các chính sách, giải pháp sử dụng tối đa, hiệu quả nguồn lao động, giảm nhanh tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm; gắn chuyển dịch cơ cấu kinh tế với chuyển dịch cơ cấu lao động; đẩy mạnh đầu tư, phát triển thêm nhiều ngành, nghề mới, tạo thêm chỗ làm việc mới, nhất là ở nông thôn. Quan trọng cần mở rộng thị trường xuất khẩu lao động, tăng cường hợp tác liên doanh, liên kết xây dựng các cơ sở sản xuất, kinh doanh ở nước ngoài để đưa lao động tới làm việc. Đặc biệt, đào tạo chuyên môn kỹ thuật và tay nghề cho người lao động, chú trọng tăng hàm lượng chất xám, biến ưu thế về mặt số lượng thành chất lượng thông qua việc tăng cường giáo dục đào tạo và khoa học công nghệ. - TS Dương Quốc Trọng, Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - KHH gia đình, Bộ Y tế cho biết.
 
Để cải thiện được chất lượng cán bộ làm khoa học công nghệ, phương thức đào tạo ở các trường đại học cũng cần được thay đổi, thay vì dạy theo kiểu hàn lâm cần đưa học viên với thực tế của ngành học. Thêm nữa, các doanh nghiệp muốn phát triển theo hướng bền vững cần phải có các phòng thí nghiệm riêng, do đó, nhà nước cần đề ra quy chế quy định các doanh nghiệp lớn phải thành lập các trung tâm nghiên cứu, phát triển sản phẩm của mình đảm bảo có sức cạnh trạnh cao. Viêt Nam cần tích lũy tri thức bằng cách đào tạo đại hoc, các viện nghiên cứu, nếu không, khi Việt Nam bước vào giai đoạn dân số già sẽ khó cạnh tranh với các nước trong khu vực chứ chưa nói đến các nước tiên tiến trên thế giới.
 
(T.Hương)