Tăng trưởng tín dụng vẫn thấp bởi sự thiếu ổn định của hệ thống ngân hàng

Theo ông Dominic Mellor, Chuyên gia kinh tế quốc gia của Ngân hàng Phát triển Châu Á ADB, dù tăng trưởng kinh tế 2012 của Việt Nam thấp nhất trong 13 năm qua buộc các cơ quan chức năng áp dụng nới lỏng chính sách tiền tệ từ cuối năm trước, song tăng trưởng tín dụng vẫn bị hạn chế bởi sự không chắc chắn về tình hình tài chính của hệ thống ngân hàng.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Cần làm sạch bảng cân đối tài sản của ngân hàng

ADB cho rằng, sự phục hồi kinh tế phụ thuộc vào việc đẩy mạnh các chương trình cải cách hệ thống ngân hàng và doanh nghiệp nhà nước và các rủi ro đối với nền kinh tế hiện nay đang xoay xung quanh sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng và quy mô nợ xấu. Vấn đề nợ xấu bắt đầu lan rộng sang thị trường tiền tệ liên ngân hàng từ cuối năm 2011, khi một số ngân hàng không thể thu hồi vốn đã cho vay đối với cho các ngân hàng nhỏ hơn có tỷ lệ nợ xấu cao. Ngân hàng Nhà nước năm ngoái đã có động thái phản ứng bằng cách hạn chế các ngân hàng thương mại có nợ liên ngân hàng quá hạn hơn 10 ngày không được tiếp tục vay trên thị trường liên ngân hàng, bên cạnh các biện pháp khác. Những biện pháp này giảm được rủi ro giao dịch liên ngân hàng nhưng đồng thời hạn chế thị trường hoạt động.

Đầu năm nay Ngân hàng Nhà nước đã nới lỏng một số biện pháp hạn chế này. Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng vẫn bị hạn chế mà nguyên nhân một mặt là do các NHTM thận trọng khi cho vay, đồng thời, sự không chắc chắn về tình hình tài chính của hệ thống ngân hàng nên tác động truyền dẫn của chính sách tiền tệ còn chậm. Hiện chưa có một con số nợ xấu rõ ràng nhưng theo Fitch, nợ xấu của Việt Nam cao hơn mức dự báo và đứng ở mức 2 con số, đặc biệt khi lợi nhuận ròng của các DN trên thị trường chứng khoán đều giảm nên nợ xấu có thể còn cao hơn con số chính thức.

Các cơ quan chức năng đã đưa ra quy định yêu cầu các ngân hàng thương mại phải tăng trích lập dự phòng rủi ro đối với nợ xấu và báo cáo về tình hình phân loại nợ vào tháng 6/2013. Việc tuân thủ  có  thể  mất  nhiều  thời  gian  hơn so với  dự  kiến,  vì  các  ngân  hàng  cần  phải  nâng  cấp  hệ thống kế toán của họ. Chức năng thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước cần phải được tăng cường để đảm bảo tuân thủ các quy định mới.  Việc làm sạch bảng cân đối tài sản của các ngân hàng thương mại sẽ mở đường cho việc tăng cường mạnh mẽ hoạt động tín dụng. - Báo cáo Triển vọng Phát triển Châu Á 2013 chỉ rõ.

Nhận thức rõ về điều này, Ngân hàng Nhà nước dự định thành lập một Công ty Quản lý Tài sản để mua lại các khoản nợ xấu từ các ngân hàng thương mại. Việc đảm bảo đủ kinh phí để hoạt động là yếu tố thiết yếu cho sự thành công của kế hoạch này, cũng như một quy trình định giá tài sản minh bạch và một hành lang pháp lý về phá sản với năng lực xử lý nợ xấu được cải thiện.

Nhằm  thu  hút  vốn  và  kinh  nghiệm  chuyên  môn  từ  nước  ngoài,  Chính  phủ  dự  kiến  sẽ tăng mức trần sở hữu nước ngoài trong các ngân hàng trong nước bởi một tổ chức đầu tư từ 10% lên 15%, và lên đến 20% đối với các nhà đầu tư chiến lược, đồng thời cho phép tổng vốn nước ngoài trong các ngân hàng yếu kém thuộc diện tái cơ cấu được vượt quá 30%. 

Bên cạnh đó, sự phục hồi của thị trường bất động sản có thể giảm bớt áp lực đối với các ngân hàng thương mại, ít nhất trong thời gian trước mắt. Về vấn đề này, vào tháng 1/2013 Chính phủ đã công bố một gói các biện pháp nhằm vào các dự án nhà ở xã hội đi kèm hỗ trợ lãi suất cho vay thế chấp dành cho người có thu nhập thấp và công chức, giảm tiền thuê đất, hoãn nộp phí sử dụng đất, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế giá trị gia tăng.Ngoài ra còn áp dụng biện pháp tinh giản quy trình cấp giấy phép xây dựng. - ADB đánh giá cao những giải pháp này.

Chọn lọc khi tái cơ cấu DNNN

Kế  hoạch  mở  rộng  cải  cách  khu  vực  tài  chính  bao  gồm  việc  phát  triển  thị  trường  trái phiếu trong trung hạn như được nêu trong đề án của Chính phủ phê duyệt vào tháng 2/2013. Các hành động chính sách bao gồm thành lập các cơ quan xếp hạng tín dụng, một đường cong lãi suất chuẩn, hệ thống giao dịch sơ cấp, và một khuôn khổ pháp lý khuyến khích các quỹ hưu trí tự nguyện và các công ty bảo hiểm đầu tư vào trái phiếu chính phủ. Chính phủ đặt mục tiêu tăng giá trị của dự nợ trái phiếu từ 18% GDP trong năm 2011 lên 38% vào năm 2020 và nâng tỷ lệ trái phiếu được nắm giữ ngoài hệ thống ngân hàng từ 12% lên 20% trong cùng kỳ.

Đối với chính sách tài khóa, nguồn lực tài khóa còn hạn chế, trong khi nợ công và nợ do Chính phủ bảo lãnh tăng, theo ADB, hiện con số này đang là 55% GDP. Bên cạnh đó còn nghĩa vụ nợ tiềm ẩn của DNNN. Chính vì thế, nợ công còn có khả năng tăng trong tương lai. Riêng khu vực doanh nghiệp nhà nước, Chính phủ đã cam kết sẽ ban hành lộ trình cải cách vào giữa năm 2013. Việc thực hiện chương trình đòi hỏi phải có sự phối hợp liên ngành vì việc cải cách doanh nghiệp nhà nước là nhiệm vụ mang tính xuyên suốt của một số bộ ngành. Kế  hoạch  tái cơ cấu  đã được  phê  duyệt  cho  24  doanh  nghiệp  nhà  nước  lớn,  và  sẽ  có  thêm nhiều kế hoạch tương tự được đưa ra, bao gồm cổ phần hóa hoặc tư nhân hóa một phần các doanh nghiệp nhà nước thông qua chào bán cổ phiếu nếu tình hình thị trường cho phép. Một báo cáo đánh giá ngành tài chính do Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hàng Thế giới thực hiện với sự đồng ý của chính phủ, sẽ được hoàn thành trong năm nay.

ADB cũng cho rằng, tiến trình cổ phần hóa đã đi chậm lại trong những năm gần đây. Một trong các mục tiêu đề ra là thoái vốn ngoài ngành tại các doanh nghiệp nhà nước đến năm 2015, vì nhiều doanh nghiệp nhà nước đã mắc nợ rất nhiều khi đầu tư vào các lĩnh vực không liên quan đến ngành kinh  doanh  cốt  lõi  của  mình.  Sự  thiếu  vắng  một  khuôn  khổ  pháp  lý  toàn  diện  cho  cải  cách doanh nghiệp nhà nước có thể gây rủi ro cho việc thực hiện chương trình tái cơ cấu vốn được xây dựng theo cách tiếp cận giải quyết tình thế. Do đó, ông Tomoyuki Kimura, Giám đốc Quốc gia ADB tại Việt Nam cũng khuyến nghị Chính phủ cần có cách tiếp cận có tính chiến lược và có chọn lọc hơn theo hướng cải cách cơ cấu, đặc biệt là tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, vì nguồn lực hiện đang thiếu hụt. Những thành công và tiến bộ ban đầu có thể động lực cho việc cải cách hơn nữa.

Về việc 4 doanh nghiệp gồm Tổng Công ty Truyền thông Đa phương tiện (VTC), Tập đoàn Công nghiệp Than-khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), Tổng Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex), Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines) - không được lựa chọn tham gia chương trình “Cải cách doanh nghiệp nhà nước và hỗ trợ quản trị công ty” do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tài trợ nhằm tái cơ cấu doanh nghiệp, bao gồm tái cấu trúc ngành nghề kinh doanh; tái cơ cấu doanh nghiệp và mô hình tổ chức quản lý; đổi mới và nâng cao quản trị doanh nghiệp; tái cơ cấu tài chính…Ông Dominic khẳng định: Lý do 4 DN lớn này không đáp ứng yêu cầu vì các DN đều không hẳn có tầm quan trọng chiến lược đối với nền kinh tế và tác động đến ngân sách nhà nước. Thực tế, nhìn vào có thể thấy các sản phẩm, dịch vụ của nhóm các DN này hầu hết là các loại hình thương mại, trong khi tiêu chí để lựa chọn DN tham gia Chương trình lại là các DN nhà nước cung cấp loại hình dịch vụ phi thương mại mà nếu không có các loại hình này thì các doanh nghiệp tư nhân cũng không đầu tư vào, thêm vào đó, lĩnh vực hoạt động của các DN này cũng phải có mối liên hệ đến các ngành khác.

(T.Hương)