Tăng trưởng xanh là yêu cầu tự thân của nền kinh tế

Việc quyết tâm theo đuổi chính sách và mục tiêu tăng trưởng xanh là yêu cầu tự thân của nền kinh tế trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Trong đó, sự kết hợp chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, với sự gia tăng hàm lượng chất xám trong từng sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh trong hội nhập quốc tế sẽ là điểm nhấn.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Xu thế tất yếu

Theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thế Phương, mô hình tăng trưởng hướng tới sự phát triển bền vững mà cộng đồng quốc tế thừa nhận và đang phấn đấu thực hiện là tăng trưởng xanh. Trong tiến trình hội nhập quốc tế toàn diện của Việt Nam, việc lựa chọn và thực hiện tăng trưởng xanh cũng đang trở thành tất yếu.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã công bố Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh theo Quyết định số 403/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ. Vấn đề đặt ra là làm gì để đạt mục tiêu tăng trưởng xanh thông qua các hoạt động liên quan, cũng như biện pháp triển khai cụ thể.

Kế hoạch tăng trưởng xanh quốc gia gồm 12 nhóm hoạt động, với nhiều hành động cụ thể, theo 4 chủ đề như: Xây dựng thể chế quốc gia và kế hoạch tăng trưởng xanh tại địa phương; Giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; Thực hiện xanh hóa sản xuất; Thực hiện xanh hóa lối sống, tiêu dùng bền vững.

Việc quyết tâm theo đuổi chính sách và mục tiêu tăng trưởng xanh là yêu cầu tự thân của nền kinh tế trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa - hiện đại hóa. Trong đó, sự kết hợp chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, với sự gia tăng hàm lượng chất xám trong từng sản phẩm để nâng cao sức cạnh tranh trong hội nhập quốc tế sẽ là điểm nhấn.

Một quốc gia càng phát triển về kinh tế và tăng trưởng, quốc gia đó càng sử dụng nhiều năng lượng cho sản xuất và tiêu dùng. Trong bốn chủ đề tăng trưởng xanh trong chiến lược quốc gia, phát triển năng lượng xanh được đặt lên hàng đầu với hàm nghĩa việc khai thác các nguồn năng lượng từ hóa thạch chuyển sang tái tạo và có khả năng tái tạo; giải pháp và thực hiện tiêu dùng năng lượng một cách hiệu quả, tiết kiệm và thiết thực; ứng dụng và phát huy các công nghệ sản xuất mới dựa trên việc sử dụng năng lượng hiệu quả cũng như các nguồn năng lượng mới.

"Việt  Nam nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa Đông Nam Á, có nguồn tài nguyên nhiên liệu-năng lượng đa dạng, đầy đủ các chủng loại như than, dầu khí, thủy điện và các nguồn năng lượng tái tạo khác  như năng lượng mặt trời, năng lượng sinh khối, năng lượng gió, năng lượng địa nhiệt, năng lượng biển…, trong đó đáng chú ý tiềm năng lớn là năng lượng mặt trời, năng lượng gió và năng lượng sinh khối. Tuy nhiên thực tiễn phát triển kinh tế những năm vừa qua cho thấy sự biến động về nhiên liệu và năng lượng diễn biến khá phức tạp, bên cạnh việc xuất khẩu than và dầu thô, chúng ta vẫn phải nhập khẩu sản phẩm dầu qua chế biến và điện năng. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để nguồn tài nguyên nhiên liệu và năng lượng của Việt Nam không chỉ đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội trong những năm tới mà chúng ta còn có thể xuất khẩu nguồn tài nguyên này dưới dạng năng lượng và thành phẩm đã qua chế biến, thích ứng với sự biến động của thị trường, đảm bảo an ninh về nguồn năng lượng lâu dài cho phát triển kinh tế." - PGS.TS.Nguyễn Thế Chinh, Phó viện trưởng, Viện Chiến lược Chính sách tài nguyên và môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết.

Về kịch bản tăng trưởng kinh tế  tính theo chỉ tiêu GDP, được dự báo theo nghiên cứu của nhóm phân tích và dự báo của Viện Chiến lược phát triển, Bộ kế hoạch và đầu tư, từ năm 2011-2030, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam theo chỉ tiêu GDP dao động trong mức 7-8,6%. Chỉ tiêu của các ngành cũng không có những đột biết lớn, đối với nông-lâm-thủy sản dao động trong mức 2-3%; ngành công nghiệp-xây dựng ở mức 7,5-9,3%; ngành dịch vụ dao động trong mức 8-9,3%. Như vậy sau mỗi giai đoạn chu kỳ 5 năm mức tăng trưởng đều, đòi hỏi một sự đáp ứng năng lượng cũng phải tăng trưởng phù hợp.

Đối với dự báo về nhu cầu sử dụng năng lượng, nghiên cứu cũng đã chỉ ra đối với kịch bản cơ sở, giai đoạn 2010-2030 điện năng và tổng sản phẩm dầu chiếm tỷ trọng lớn trong suốt cả giai đoạn. Tỷ lệ tiêu thụ điện năng tăng từ 15,2% năm 2010 đến 32,1% năm 2030, còn đối với tiêu thụ than giảm nhẹ từ 20,1% xuốngs còn 18,2% , sử dụng khí đốt tăng từ 1% lên 1,6%, sản phẩm dầu tăng từ 33,7% lên 40,6%, đối với năng lượng phi thương mại giảm từ 28,9% xuống còn 7,5% tính cho dai đoạn 20 năm từ 2010 đến 2030.

Đổi mới công nghệ năng lượng

Để đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế và xã hội trong những năm tới, Việt Nam cần có những giải pháp phù hợp với thể chế kinh tế thị trường trong hoàn cảnh chúng ta ngày càng hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, tính chất cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Thị trường năng lượng cũng giống như tất cả các loại thị trường hàng hóa khác, được thực hiện dựa trên nguyên lý cung - cầu, khả năng bao cấp của Nhà nước ngày càng giảm dần. Trong bối cảnh giảm thiểu và thích ứng với biến đổi khí hậu, thực hiện chiến lược tăng trưởng xanh theo quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012, nhiệm vụ Chiến lược đã đặt ra là giai đoạn 2011-2020 “giảm cường độ phát thải khí nhà kính 8-10% so với mức 2010, giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP trong khoảng 1-1,5% mỗi năm.

Trước thực tiễn này, PGS.TS Nguyễn Thế Chinh khuyến nghị: Đối với ngành năng lượng cần phải có những giải pháp mang tính đột phá và quyết tâm lớn. Theo đó, đối với những nguồn năng lượng mà Việt Nam không có ưu thế cạnh tranh trên thị trường, giá cả cao hơn so với nhập khẩu của các quốc gia khác, ngành năng lượng nên nhập khẩu, chẳng hạn như than sản xuất điện hay điện năng, đảm bảo cán cân xuất nhập khẩu năng lượng cân bằng là tốt nhất, tiến tới hạn chế tối đa nhập khẩu năng lượng. V lộ trình như chiến lược tăng trưởng xanh đã đề ra, ngành năng lượng buộc phải giảm dần những nguồn nhiêu liệu phát thải khí nhà kính như than, xăng dầu và tăng dự trữ quốc gia đối với các nguồn nhiên liệu cạn kiệt, do vậy sẽ phải có cơ chế chính sách và khuyến khích nhiều hơn đầu tư đổi mới quy trình công nghệ trong sản xuất và tiêu dùng, nâng cao hiệu suất sử dụng năng lượng tính trên giá trị sản phẩm đầu ra để đạt chỉ tiêu mỗi năm giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP trong khoảng 1-1,5%. Tài nguyên nhiên liệu và năng lượng của Việt Nam đa dạng và có một số loại có tính cạnh tranh cao, nhất là nguồn năng lượng tái tạo như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và sinh khối.

Muốn vậy, cần phải có cơ chế chính sách phù hợp nhằm khuyến khích sử dụng nguồn năng lượng tái tạo, trước hết là năng lượng gió, năng lượng mặt trời và năng lượng sinh học. Trong ngắn hạn do chi phí đầu tư và đổi mới công nghệ cao, nên sản phẩm năng lượng đầu ra của các loại năng lượng và nhiên liệu này còn cao, Nhà nước cần tiếp tục có chính sách trợ giá và giảm thuế để giảm gánh nặng cho các nhà đầu tư khai thác các dạng năng lượng tái tạo. Về dài hạn năng lượng tái tạo sẽ thay thế dần các nguồn năng lượng hiện tại sử dụng quá nhiều nhiên liệu đốt và thủy điện cũng như điện hạt nhân.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, Việt Nam không phải thuộc nhóm nước cắt giảm khí nhà kính, tuy nhiên chúng ta thực hiện theo định hướng chung của thế giới và cam kết trong chiến lược tang trưởng xanh giai đoạn 2011-2020 giảm cường độ phát thải khí nhà kính 8-10% so với mức 2010 và đến năm 2030 giảm mức phát thải khí nhà kính mỗi năm ít nhất 1,5-2% , chính vì vậy đây là cơ hội để chúng ta huy động nguồn vốn ngoại lực đầu tư vào khai thác các nguồn năng lượng tái tạo, đổi mới công nghệ trong sử dụng tiết kiệm năng lượng. 

(T.Hương)