Tạo hành lang pháp lý để hiện đại hóa hoạt động hải quan

Tại phiên họp Quốc hội ngày 28/10, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ đã trình bày Tờ trình về dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi).

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng trình bày báo cáo trước Quốc hội sáng 28/10. Ảnh: TTXVNBộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng trình bày báo cáo trước Quốc hội sáng 28/10. Ảnh: TTXVN

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, việc xây dựng dự thảo luật này xuất phát từ yêu cầu hội nhập quốc tế sâu rộng mà thực tế phát triển kinh tế đối ngoại trước mắt cũng như lâu dài đặt ra. Việc sửa đổi Luật Hải quan tạo hành lang pháp lý cho hiện đại hóa hoạt động hải quan, áp dụng rộng rãi phổ biến hải quan điện tử, đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Mặc dù đã được sửa đổi bổ sung năm 2005 tạo tiền đề áp dụng hải quan điện tử, nhưng Luật Hải quan hiện hành chưa bảo đảm được cơ sở pháp lý cho việc chuyển hẳn sang áp dụng rộng rãi phổ biến.  Sự phát triển nhanh của nền kinh tế, hội nhập quốc tế, đã đòi hỏi việc thông quan hàng hóa của ngành Hải quan phải có những thay đổi cơ bản để đáp ứng, trong khi đó về cơ bản các nội dung trong Luật Hải quan hiện hành vẫn quy định thực hiện theo phương thức thủ công truyền thống từ việc quy định hồ sơ hải quan, khai hải quan đến thông quan. 

Việc ban hành Luật Hải quan (sửa đổi) hướng tới mục tiêu tạo khung pháp lý để áp dụng phổ biến hải quan điện tử phục vụ có hiệu quả sự phát triển của hoạt động kinh tế đối ngoại trong chiến lược kinh tế xã hội giai đoạn mới; hướng tới một hoạt động hải quan công khai, minh bạch, hiệu quả hơn, đồng thời tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả, hiệu lực công tác bảo vệ lợi ích chủ quyền quốc gia, phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại, tạo môi trường pháp luật thống nhất và đồng bộ áp dụng trong nền kinh tế và khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Hải quan hiện hành.

Theo đó, Dự thảo Luật Hải quan (sửa đổi) gồm 106 Điều, được bố cục thành 8 Chương, trong đó tập trung vào:

Áp dụng rộng rãi hải quan điện tử

Dự thảo Luật sẽ thay đổi căn bản phương thức thực hiện thủ tục hải quan, từ phương thức truyền thống, bán điện tử sang phương thức điện tử. Cụ thể, tại Điều 29 dự thảo quy định “Khai hải quan được thực hiện theo phương thức điện tử,…”; việc khai trong tờ khai giấy chỉ áp dụng đối với một số trường hợp cụ thể do Chính phủ quy định. Điều 32 quy định việc kiểm tra hồ sơ hải quan được cơ bản thực hiện thông qua hệ thống xử lý dữ liệu điện tử hải quan hoặc đối với một số trường hợp cụ thể được thực hiện trực tiếp bởi công chức hải quan.  

Các quy định về địa điểm làm thủ tục hải quan (Điều 22), hồ sơ hải quan (Điều 24), thời hạn nộp hồ sơ hải quan (Điều 25), đăng ký tờ khai hải quan (Điều 30) cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thủ tục hải quan điện tử, phù hợp với Công ước Kyoto.

Đơn giản hóa thủ tục, ưu tiên cho DN uy tín

Điều 23 dự thảo Luật quy định rõ thời hạn công chức hải quan kiểm tra hồ sơ chậm nhất 2 giờ làm việc; giảm thời gian kiểm tra thực tế hàng hoá xuống 8 giờ làm việc kể từ thời điểm người khai xuất trình hàng hoá cho cơ quan hải quan; trường hợp cần thiết phải gia hạn thì gia hạn tối đa 2 ngày làm việc. Điều 24 đưa ra quy định chung thống nhất về hồ sơ hải quan theo hướng đơn giản hóa, chỉ có tờ khai hải quan là chứng từ bắt buộc phải có khi làm thủ tục hải quan, đối với các chứng từ khác, Bộ Tài chính sẽ quy định cụ thể trường hợp phải nộp, xuất trình theo quy định của pháp luật.

Để khuyến khích và tạo thuận lợi cho DN XNK lớn, chấp hành tốt pháp luật hải quan, thuế…; đồng thời tạo tiền đề công nhận chế độ ưu tiên giữa các quốc gia như Hải quan các nước, tại Chương III, mục 2 dự thảo Luật đã quy định rõ chế độ ưu tiên về hải quan đối với DN (Điều 38), điều kiện áp dụng (Điều 39), quyền, trách nhiệm của cơ quan hải quan, của DN được áp dụng chế độ ưu tiên (Điều 40, 41) phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

Dự thảo cũng bổ sung cơ chế xác định trước cho DN mã số, xuất xứ, trị giá hải quan tại điều 28, giúp DN chủ động xác định trước  nghĩa vụ về thuế, giảm tranh chấp giữa DN và hải quan về việc áp mã, xác định giá tính thuế, xuất xứ hàng hoá.

Dự thảo Luật cũng bổ sung các quy định tạo cơ sở pháp lý để thực hiện thủ tục hải quan, chế độ kiểm tra hàng hóa XK, NK theo cơ chế một cửa quốc gia.

Tập trung phòng chống buôn lậu

Điều 7 dự thảo Luật quy định ngoài những địa điểm đã được xác định như Luật hiện hành còn quy định địa điểm khác khi có đủ điều kiện về hạ tầng, lực lượng quản lý nhà nước và được phép XK, NK, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh theo quy định của Chính phủ, khu vực đang lưu giữ hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan thuộc địa bàn hoạt động hải quan.

Về kiểm tra sau thông quan, tại các Điều từ 78 đến Điều 84 dự thảo Luật đã quy định rõ về kiểm tra sau thông quan và phân cấp trách nhiệm thực hiện kiểm tra sau thông quan của cơ quan hải quan.

Để tăng cường phòng, chống buôn lậu qua biên giới, Điều 91 dự thảo Luật quy định trong trường hợp có căn cứ xác định hàng hóa, phương tiện vận tải buôn lậu, vận chuyển trái phép qua biên giới đang di chuyển từ địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan thì lực lượng kiểm soát hải quan tiếp tục truy đuổi để áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý, đồng thời thông báo cho các cơ quan chức năng trên địa bàn biết để phối hợp ngăn chặn, xử lý.

Ngoài ra, Điều 92 dự thảo quy định rõ việc áp dụng các biện pháp tuần tra, kiểm soát, điều tra, xác minh để cơ quan hải quan có cơ sở thực hiện.

Ngay sau đó, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý đã trình bày Báo cáo thẩm tra về dự án Luật Hải quan sửa đổi. Theo đó, Ủy ban Pháp luật tán thành với sự cần thiết sửa đổi Luật hải quan như đã nêu trong Tờ trình của Chính phủ; đồng thời, nhận thấy dự án Luật Hải quan (sửa đổi) là một dự án Luật quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển KT-XH trong nước, tác động sâu rộng tới quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Các quy định trong Luật liên quan đến nhiều đạo luật chuyên ngành và nhiều điều ước quốc tế. Vì vậy, bên cạnh yêu cầu đổi mới toàn diện hoạt động hải quan, hiện đại hóa hải quan và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế cũng đặt ra yêu cầu nội luật hóa quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Bên cạnh đó, việc sửa đổi Luật cũng cần bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan, phục vụ yêu cầu đấu tranh phòng, chống các hành vi gian lận thương mại, trốn thuế làm thất thu ngân sách nhà nước và tham ô, tham nhũng trong quá trình hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.

Về phạm vi trách nhiệm phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới, Ủy ban Pháp luật cho rằng, trong địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan có thẩm quyền đầy đủ trong việc phát hiện, phòng, chống và xử lý đối với các hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; ở ngoài địa bàn hoạt động hải quan cần bảo đảm không quy định chồng chéo giữa thẩm quyền của lực lượng hải quan với thẩm quyền của các lực lượng chức năng khác như bộ đội biên phòng, cảnh sát biển, quản lý thị trường … Đối với trường hợp hàng hoá, phương tiện vận tải là hàng hóa, phương tiện vận tải buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới đang di chuyển từ địa bàn hoạt động hải quan ra ngoài địa bàn hoạt động hải quan, nếu quy định về thẩm quyền của lực lượng hải quan tiếp tục truy đuổi để áp dụng các biện pháp ngăn chặn theo quy định của pháp luật là không phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91, theo đó ngoài phạm vi địa bàn hoạt động hải quan, cơ quan hải quan có trách nhiệm phối hợp hoặc chủ động phối hợp với các cơ quan nhà nước hữu quan thực hiện các biện pháp phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hoá qua biên giới. Vì vậy, cơ quan soạn thảo cần có tổng kết, đánh giá việc thi hành cơ chế phối hợp giữa Hải quan với các cơ quan, đơn vị hữu quan để có cơ sở quy định phù hợp vấn đề này trong Luật, tránh chồng chéo, mâu thuẫn về mặt thẩm quyền giữa các cơ quan, Ủy ban Pháp luật đề nghị.

Bên cạnh đó, Ủy ban Pháp luật nhận thấy vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động hải quan và yêu cầu phát triển ngành hải quan, quy định trong dự thảo Luật chưa xác định vai trò của Tổng cục Hải quan là cơ quan chuyên môn về lĩnh vực hải quan; mối quan hệ giữa cơ quan hải quan với các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan chuyên môn ở địa phương; trách nhiệm của các ngành, các cấp trong việc phối hợp, tạo điều kiện về cơ sở vật chất, địa điểm làm việc để thực hiện các hoạt động nghiệp vụ hải quan... do đó sẽ khó thi hành trên thực tế. Vì vậy, cần nghiên cứu, bổ sung vào dự thảo Luật một số quy định để làm rõ hơn trách nhiệm của các bộ, ngành có liên quan đối với hoạt động hải quan.

(eFinance - tổng hợp)