Thắt chặt tài khóa nhưng Việt Nam vẫn "chi mạnh" cho ứng phó biến đổi khí hậu

Theo chỉ số về Tính tổn thương với biến đổi khí hậu (BĐKH), Việt Nam được coi là một trong 30 "nước cực rủi ro" trên thế giới. Do đó, Việt Nam cần tăng cường hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu bằng cách lồng ghép đầu tư chiến lược hướng tới một tương lai ít phát thải khí carbon vào quá trình lập kế hoạch và dự toán ngân sách của mình trong những năm tới.

Ảnh: TH.Ảnh: TH.

Đây là thông điệp của Bộ Kế hoạch và Đầu tư tại buổi Công cố Báo cáo về sử dụng ngân sách cho ứng phó với biến đổi khí hậu có hiệu quả ở Việt Nam thực hiện với sự hỗ trợ của Ngân hàng Thế giới và Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP).

Dành phần lớn ngân sách

Mặc dù tăng trưởng kinh tế nhanh chóng đã tạo ra nhiều cơ hội cho người dân và doanh nghiệp Việt Nam, ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy biến đổi khí hậu đang đe dọa tiến trình phát triển của đất nước. Đồng thời, do phát triển kinh tế, lượng phát thải khí nhà kính và mật độ carbon của Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Thực tế, với tốc độ tăng trưởng hiện tại, Việt Nam sẽ trở thành nguồn phát thải khí nhà kính chính. Mặc dù trước đây Việt Nam không có ảnh hưởng đáng kể đến hiện tượng trái đất nóng lên, nhưng dự báo cho thấy tổng lượng phát thải sẽ tăng gấp bốn lần từ năm 2010 đến 2030. Tốc độ gia tăng phát thải của Việt Nam là một trong những nước cao nhất trên thế giới và cường độ các bon trên GDP của Việt Nam hiện giờ đứng thứ hai trong vùng, sau Trung Quốc. Sự gia tăng này chủ yếu bắt nguồn từ sự tăng trưởng dự kiến trong việc sử dụng than để sản xuất điện, dự đoán sẽ chiếm hơn 50% các loại năng lượng vào năm 2030.

Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam cho biết: Các chính sách và thể chế sẵn có tại Việt Nam là cơ sở tốt giúp chúng ta ứng phó với biến đổi khí hậu một cách bền vững, đồng thời hỗ trợ tăng trưởng xanh, để đem lại các kết quả trong ngắn hạn và dài hạn. Việt Nam là một trong những nước tiên phong ứng phó với biến đổi khí hậu một cách quyết liệt và đặt mục tiêu dành những nguồn lực lớn cho các hoạt động ứng phó tổng thể. Chính phủ đang nỗ lực hết mình để đảm bảo các nguồn lực đáp ứng được yêu cầu, và được sử dụng một cách hiệu quả, phù hợp với các chính sách, hoạt động và ngân sách cho biến đổi khí hậu.

Chính phủ Việt Nam nhận thức rõ về những thách thức phải đối mặt và đã ứng phó mạnh mẽ thông qua các chính sách và chương trình nghị sự cấp quốc gia, địa phương và ngành để giải quyết vấn đề về tính dễ bị tổn thương với BĐKH và thúc đẩy con đường phát triển ít phát thải các-bon và tăng trưởng xanh. Các chính sách ứng phó BĐKH của Việt Nam được hỗ trợ bằng những chương trình, chiến lược liên quan tập trung vào năng lượng tái tạo, tiết kiệm năng lượng, giảm thiểu và quản lý giảm nhẹ rủi ro thiên tai, giảm phát thải từ mất rừng và suy thoái rừng.

Theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Thế Phương, các Chính phủ trên thế giới đang ứng phó với biến đổi khí hậu bằng cách cải thiện hệ thống dự toán ngân sách và lập kế hoạch, và nâng cao chất lượng chi tiêu công của mình. Chính phủ Việt Nam đã dành một lượng lớn ngân sách cho các hoạt động biến đổi khí hậu và xây dựng một chương trình chính trị thông qua các chiến lược và kế hoạch hành động về biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh. Mặc dù áp dụng chính sách tài khóa thắt chặt, chính phủ Việt Nam vẫn dành chi tiêu cho ứng phó với BĐKH.

Chi cho ứng phó với BĐKH tập trung vào các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn để tăng cường năng lực chống chịu, tuy nhiên, ngân sách dành cho các hành động giảm phát thải carbon cũng đang tăng lên. Trong giai đoạn 2010-2013, Chính phủ đã phân bổ khoảng 88% chi tiêu cho ứng phó với BĐKH vào các dự án có đồng lợi ích về thích ứng với BĐKH. Ngân sách này chủ yếu phân bổ cho các dự án thủy lợi của Bộ NN&PTNT và giao thông đường bộ của Bộ Giao thông Vận tải, tổng số chiếm 92% chi tiêu cho ứng phó với BĐKH. Trong khi đó, ngân sách trực tiếp cho giảm nhẹ từ chi thường xuyên đang có xu hướng tăng từ mức 2% giai đoạn 2010-2013 lên 3,9% vào năm 2013.

Lượng ngân sách dành cho ứng phó với BĐKH chiếm một phần đáng kể trong tổng ngân sách của các Bộ. Thống kê cho thấy trung bình 18% ngân sách của các bộ được dành riêng cho các hoạt động liên quan đến BĐKH. Tuy nhiên, do tổng ngân sách của các bộ giảm xuống, do đó tổng ngân sách dành cho ứng phó với BĐKH cũng giảm tương ứng, từ khoảng 4.300 tỷ đồng xuống 3.800 tỷ đồng. Tính theo tỷ lệ phần trăm trên GDP, chi cho ứng phó BĐKH còn thấp, ước tính chỉ bằng 0,1% GDP của Việt Nam. Trong khi đó, dự thảo nghiên cứu xây dựng con đường phát triển ít phát thải carbon của Việt Nam cho thấy đầu tư tăng thêm cho kịch bản phát triển phát thải carbon thấp ước tính đạt 2 tỷ USD/năm trong giai đoạn 2010-2030, bằng khoảng 1% GDP.

Lồng ghép các nguồn vốn

Hiện nay, khoảng 17% các khoản chi cho ứng phó với BĐKH chưa thể gắn vào mục tiêu chính sách nào phù hợp của chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh, cho thấy tăng cường tính chống chịu chưa được phản ánh trong khung chính sách của chiến lược này. Việc phân bổ vốn ban đầu theo cơ chế tài chính của Chương trình hỗ trợ ứng phó với BĐKH phần lớn được thực hiện theo một số mục tiêu nhất định của chiến lược quốc gia về BĐKH, và nói chung chưa gắn với mục tiêu của chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh vì những mục tiêu này chủ yếu bao gồm các hoạt động thích ứng. Chỉ khoảng 6% ngân sách phân bổ cho các dự án được dành cho chiến lược tăng trưởng xanh.

Bên cạnh vốn ngân sách, nguồn vốn từ các đối tác phát triển đóng vai trò cũng hết sức quan trọng trong việc tài trợ các hoạt động ứng phó với BĐKH. Có thể thấy, viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho ứng phó với BĐKH đã tăng mạnh trong thập kỷ qua. Việt Nam đã huy động được nguồn lực trong nước cho các hoạt động ứng phó với BĐKH, nhưng hỗ trợ của các đối tác phát triển cũng đóng góp khoảng 31% trong tổng chi ứng phó với BĐKH. Một số lượng vốn khá lớn của các đối tác phát triển cũng đang tài trợ cho các doanh nghiệp nhà nước để thực hiện những nhiệm vụ liên quan đến BĐKH, đặc biệt là hiệu quả năng lượng và năng lượng tái tạo, khoảng 10.000 tỷ đồng trong giai đoạn 2010-2013.

Tuy nhiên, theo đánh giá chung, tiềm năng của chương trình vẫn chưa được thực hiện một cách đầy đủ, vẫn còn tồn tại những vướng mắc, và chưa có hoặc còn thiếu ngân sách để tiến hành một số hoạt động quan trọng. Vì thế, để thiết lập những nỗ lực ứng phó với BĐKH hiệu quả hơn sẽ đòi hỏi phải xây dựng thêm các chính sách khác và phát triển năng lực thể chế, đặc biệt là thực hiện, huy động thêm nguồn lực, và hỗ trợ nhiều hơn nữa trên toàn quốc cũng như tại các địa phương.

Theo khuyến nghị của đại diện Ngân hàng Thế giới, muốn đảm bảo phân bổ chiến lược và thực hiện hiệu quả các mục tiêu ưu tiên cần nắm rõ các khoản mục chi phí và đầu tư nào được dành cho ứng phó biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh. Điều đó có nghĩa là phải tăng cường gắn kết các chính sách và chương trình ngành thông qua việc củng cố mối liên kết giữa ngân sách nhà nước từ nhiều nguồn khác nhau với các chính sách biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh, đồng thời báo cáo và đánh giá năng lực thể chế của Chính phủ trong việc thực hiện thành công ứng phó với biến đổi khí hậu.

Cụ thể, những hành động trong ngắn hạn để tăng cường hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu của Việt Nam cần được lồng ghép thành nội dung của Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm sắp tới và các năm tiếp theo. "Lồng ghép biến đổi khí hậu vào ngân sách sẽ nâng cao khả năng thích ứng của Việt Nam đối với những tác động của trạng khí hậu ấm lên trên toàn cầu, giúp các cộng đồng ít bị tổn thương hơn, và giải quyết những thách thức về phát thải trong khi Việt Nam tiến bước trên hành trình tiến tới một tương lai xanh hơn, thích ứng tốt hơn và thịnh vượng hơn." - Bà Victoria Kwakwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt nam cho biết. "Các phương án được đề xuất trong báo cáo nếu được thực hiện sẽ giúp Việt Nam đạt được mục tiêu này bằng cách tiếp tục đưa chương trình biến đổi khí hậu vào hệ thống lập kế hoạch và dự toán ngân sách của Chính phủ."

(T.Hương)