Thay đổi cơ cấu sản xuất công nghiệp - Động lực cho tăng trưởng

Công nghiệp hóa là con đường tất yếu dẫn đến sự phát triển, giúp tăng tăng suất và tạo thu nhập, giảm nghèo và tạo cơ hội cho hòa nhập xã hội. Điển hình, các ngành sản xuất công nghiệp trên toàn thế giới đã tạo ra 470 triệu việc làm và mở ra cơ hội tăng trưởng kinh tế cho các quốc gia.

Quang cảnh buổi công bố Báo cáo Phát triển Công nghiệp.Quang cảnh buổi công bố Báo cáo Phát triển Công nghiệp.

Đây là một trong những nội dung được đề cập tại Báo cáo Phát triển Công nghiệp mang tên “Duy trì Tăng trưởng Việc làm bền vững: Vai trò của Sản xuất công nghiệp và Thay đổi cơ cấu” mới được UNIDO công bố hôm nay, ngày 4/4.

Sản xuất CN vẫn là động lực cho nền kinh tế?

Cụ thể, theo ông Patrick Gilabert, Đại diện UNIDO tại Việt Nam, ngành sản xuất công nghiệp đã tạo ra 470 triệu việc làm, giải quyết được khoảng 16% lực lượng lao động của thế giới gồm 2,9 tỷ người trong năm 2009. Các ngành sản xuất công nghiệp mở ra cơ hội việc làm và tăng trưởng kinh tế cho tất cả các quốc gia ở những giai đoạn phát triển khác nhau, và giúp phát triển toàn diện. Ngay từ khi bắt đầu quá trình công nghiệp hóa, các quốc gia đã gặp phải sức ép chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp, từ ngành có hàm lượng tri thức thấp lên các ngành có giá trị gia tăng cao. Muốn tăng trưởng kinh tế, các quốc gia nói chung phải bám vào những ngành công nghệ cao, riêng Việt Nam phải đầu tư công nghệ và tăng năng suất thì mới có thể đạt được mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại vào năm 2020. Việt Nam xem việc tham gia vào những ngành sản xuất có tính toàn diện, bền vững, là cơ hội rất lớn cho phát triển, đạt được mục tiêu trở thành nước công nghiệp hiện đại.

Có thể nói, công nghiệp hóa là con đường tất yếu dẫn đến sự phát triển. Công nghiệp giúp tăng tăng suất và tạo thu nhập, giảm nghèo và tạo cơ hội cho hòa nhập xã hội. Khi các nước tiếp tục phát triển nền công nghiệp của mình, động cơ phải nâng cao giá trị gia tăng sẽ khiến họ tăng cường áp dụng khoa học, kỹ thuật và đổi mới, khuyến khích tăng cường đầu tư vào xây dựng kỹ năng và giáo dục, và cung cấp nguồn lực để đạt được những thành quả phát triển có quy mô rộng lớn hơn.

Có một thực tế là trong khi việc làm trong ngành sản xuất công nghiệp đang tăng lên ở các nước đang phát triển, thì tại các nước phát triển, sự sụt giảm số lượng việc làm trong ngành này được bù đắp nhờ sự gia tăng số lượng việc làm trong các ngành dịch vụ có liên quan đến sản xuất công nghiệp. Ngành thực phẩm và nước giải khát, và ngành dệt may có tiềm năng công nghiệp hóa rất lớn tại các nước kém phát triển nhất, trong khi các ngành công nghệ cao tạo rất nhiều cơ hội cho các nước phát triển đầu tư, đổi mới, từ đó duy trì bền vững việc làm. Điều này đặt ra câu hỏi liệu rằng sản xuất công nghiệp có còn là động lực tăng trưởng cho nền kinh tế và đáng để các nhà đầu tư tham gia vào?

Về vấn đề này, ông Ludovico Alcorta, Giám đốc Chi nhánh Chính sách Phát triển, Thống kê và Nghiên cứu Chiến lược, UNIDO Trụ sở chính cho rằng: Tỷ lệ tăng trưởng GDP hàng năm có sự thay đổi trong ngành sản xuất công nghiệp khi mà tăng sản xuất công nghiệp sẽ có cơ hội tăng trưởng GDP. Các nhóm quốc gia như Trung Quốc trong 20 năm qua đã gia tăng sản xuất công nghiệp từ 1% - 2% và tăng trưởng GDP chung vào khoảng 8%. Ngay cả các quốc gia Đông Nam Á cũng thể hiện mối liên hệ ràng buộc giữa sản xuất công nghiệp và tăng trưởng GDP. Có thể nói, định hướng vào sản xuất công nghiệp sẽ giúp mỗi quốc gia có thêm động lực tăng trưởng và sản xuất công nghiệp vẫn là động lực chính cho tăng trưởng trong thời gian tới.

Cùng đồng tình với ý kiến trên, ông Lê Hữu Phúc, Vụ phó Vụ Hợp tác quốc tế, Bộ Công Thương, Việt Nam đang dành nhiều công sức, nguồn lực để tìm ra những chính sách đúng đắn giải quyết những vấn đề trước mắt, đồng thời cũng đảm bảo thực hiện nhiệm vụ trung và dài hạn nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, và tạo công ăn việc làm cho người lao động. Cụ thể, đối với các nước vừa gia nhập nhóm các quốc gia thu nhập trung bình thấp như Việt Nam, các chính sách đang chuyển dần từ khuyến khích các ngành công nghiệp thâm dụng lao động và tài nguyên sang nâng cao hiệu quả sản xuất và năng suất, đa dạng hóa và cải thiện cơ cấu kinh tế.

Cần định hướng thay đổi cơ cấu công nghiệp

Nền công nghiệp của Việt Nam đã có bước phát triển ấn tượng nhờ quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngược lại, quá trình hội nhập cũng tạo ra động lực tái cơ cấu cho công nghiệp của Việt Nam. Nhưng vẫn phải thừa nhận rằng thời gian qua, từ khi đổi mới đến nay, dù Bộ Công thương đã có nhiều chiến lược liên quan quy hoạch ngành công nghiệp nhưng đôi lúc vẫn chưa đạt được mục tiêu như mong muốn. Do đó cần hoạch định mục tiêu, chính sách đúng đắn, đặc biệt là tăng đầu tư các nguồn lực, kể cả con người.

"Chính vì thế, định hướng thay đổi cơ cấu công nghiệp cho các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam là hết sức cần thiết để tạo ra việc làm, giảm đói nghèo và phát triển bền vững. Liên tục đổi mới và thay đổi cơ cấu các ngành công nghiệp sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho tăng trưởng, việc làm có năng suất và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Cụ thể, chính sách công nghiệp cần tạo điều kiện để thúc đẩy quá trình tái cơ cấu phù hợp với từng giai đoạn phát triển của quốc gia. Cụ thể, đối với các chính sách việc làm, những thành tố cần được xem xét là sự phức tạp của các nhu cầu kỹ năng công nghiệp, gắn nhu cầu ngắn hạn với mục tiêu dài hạn, tạo ra các kỹ năng một cách từ từ và nối tiếp nhau, kết nối cung cầu, và đặt chính sách phát triển kỹ năng trong chương trình phát triển kinh tế xã hội tổng thể." - ông Lê Hữu Phúc khuyến nghị.

Về phía mình, ông Ludovico Alcorta nhấn mạnh rằng “Tác động của các tác nhân chi phối chủ yếu việc thay đổi cơ cấu và công nghiệp hóa - như chi phí, công nghệ, nhu cầu, và hiệu quả sử dụng tài nguyên - đối với việc duy trì bền vững việc làm hoàn toàn phụ thuộc vào những chính sách công nghiệp được thông qua. Vì vậy những chính sách công nghiệp này phải được định hướng nhằm thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế và sẽ chỉ có hiệu quả nếu quá trình hoạt định chính sách cũng đóng vai trò quan trọng giống như nội dung chính sách. Cụ thể hơn, Việt Nam cần có sự đa dạng hóa nền kinh tế để tạo nên sức mạnh tăng trưởng. Các ngành công nghiệp phải tạo thêm giá trị gia tăng, tăng tính cạnh tranh bằng cách bổ sung vốn, đầu tư hơn vào máy móc và tăng tính sáng tạo của mình. Việt Nam đang di chuyển chậm chạp để trở thành nước có thu nhập trung bình. Thách thức cho Việt Nam và các quốc gia có thu nhập trung bình khác là phải có một loạt ngành mới như sản xuất kim loại cơ bản, cao su, nhựa... tạo sản phẩm hỗ trợ cho ngành xây dựng. Đây là mặt hàng cần thiết cho tăng trưởng mà nhiều quốc gia khác đang gặp phải.

Thêm nữa, Việt Nam cần hướng tới dịch chuyển từ ngành truyền thống như dệt may, da giày sang ngành đóng góp nhiều hơn cho GDP. Hiện ngành chế tạo Kim loại cho thấy sự gia tăng việc làm khá đáng kể và sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng cần dịch chuyển khỏi ngành công nghiệp dệt may sang sản xuất điện tử. Sự dịch chuyển này tạo tiềm năng gia tăng lao động cao hơn so với ngành sản xuất nông nghiệp và các ngành khác, tạo tính ổn định trong tăng trưởng. Với các nước thu nhập cao, việc đầu tư đổi mới ngành công nghệ cao như điện, điện tử, hóa chất... là cần thiết bởi đây là ngành tạo việc làm mới và giúp tăng trưởng nhanh chóng. Có thể thấy, xu hướng dịch chuyển khỏi khu vực sản xuất tại các nước phát triển đã rất rõ ràng.

Là một trong những ngành được khuyến cáo cần phải dịch chuyển, bà Đặng Phương Dung, Tổng thư ký Hiệp hội dệt may Việt Nam cho biết: Việt Nam đã có sự chuyển dịch sang ngành công nghiệp, dịch vụ và các ngành có hàm lượng công nghệ cao hơn, thậm chí chúng ta còn tham vọng phát triển công nghệ đi tắt đón đầu. Trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, các nước thường chỉ phát triển các ngành có lợi thế cạnh tranh và bỏ qua các ngành kém cạnh tranh hơn, tuy nhiên, các ngành Việt Nam có lợi thế so sánh cũng chưa phát triển như mong đợi. Do đó, chính sách phát triển công nghiệp của Việt Nam phải hoạch định các ngành kinh tế đi theo hướng cần công nghệ cao hơn. Một thực tế là dù đã có chính sách song đến giai đoạn thực thi lại kém, các chính sách bổ trợ cho các ngành sản xuất như tín dụng ngân hàng, thuế cũng đang tạo lực cản để các ngành sản xuất khó bứt phá ra khỏi các yếu kém nội tại.

Một vấn đề nữa khiến ngành sản xuất công nghiệp có hàm lượng công nghệ cao của Việt Nam vẫn chỉ là "có tiếng mà không có miếng" và chưa chuyển dịch được chính là do các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) vẫn chỉ cho Việt Nam tham gia vào lắp ráp, không cần nhân lực chất lượng cao. Đặc biệt, các doanh nghiệp FDI thường giữ bí mật, không muốn chia sẻ kinh nghiệm và công nghệ. Nguy hiểm hơn, khi giá nhân công tại Việt Nam tăng lên đáng kể, họ dễ dàng chuyển dịch các nhà máy sang nước có chi phí nhân công thấp hơn. Chính vì thế, chúng ta cần một chính sách phối hợp giữa tư nhân và nhà quản lý để tránh khỏi vấn đề Việt Nam đang vấp phải.

(T.Hương)