Thị trường trái phiếu chính phủ đã chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế

(eFinance Online) - Thị trường trái phiếu Chính phủ (TPCP) chuyên biệt chính thức đi vào hoạt động tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội (HNX) từ ngày 24/09/2009. Qua 10 năm hoạt động, thị trường TPCP đã có những bước phát triển mạnh mẽ, trở thành kênh huy động vốn hiệu quả cho đầu tư phát triển; thị trường TPCP đã và đang đóng vai trò then chốt để phát triển thị trường trái phiếu, sản phẩm TPCP là công cụ đầu tư an toàn, hiệu quả cho các loại hình nhà đầu tư (NHTM, hệ thống bảo hiểm, hệ thống các quỹ đầu tư…). 
 
Ảnh minh họa - nguồn: internet.Ảnh minh họa - nguồn: internet.

Quy mô thị trường gấp 12 lần so với năm 2009

Sau 10 năm hoạt động, thị trường trái phiếu Chính phủ đã có sự phát triển cả về quy mô và tính thanh khoản, đóng vai trò then chốt để phát triển thị trường vốn, thị trường trái phiếu. Hoạt động của thị trường trái phiếu Chính phủ đã được chuẩn hóa theo thông lệ quốc tế từ khâu công bố kế hoạch phát hành, sản phẩm hàng hóa, phương thức và quy trình phát hành đến đăng ký, lưu ký, niêm yết, giao dịch trên thị trường thứ cấp. Quy mô thị trường trái phiếu Chính phủ đến hết tháng 11/2019 bằng 25,1%GDP năm 2019 gấp 12 lần so với năm 2009. Khối lượng giao dịch bình quân phiên trong 11 tháng đầu năm 2019 đạt 9.000 tỷ đồng/phiên tăng 24 lần so với năm 2009 bằng 0,9% dư nợ trái phiếu niêm yết. Thị trường trái phiếu Chính phủ Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 27%/năm trong thập kỷ vừa qua là mức tăng cao nhất trong các nền kinh tế mới nổi tại khu vực Đông Á.

Theo đánh giá của Vụ Tài chính ngân hàng (Bộ Tài chính), khung pháp lý cho hoạt động của thị trường liên tục được đổi mới, hoàn thiện phù hợp với từng giai đoạn phát triển của thị trường theo thông lệ quốc tế, góp phần nâng cao khả năng huy động vốn cho NSNN và là sản phẩm tài chính an toàn, thanh khoản cho các nhà đầu tư. Trong 10 năm qua, hai thế hệ chính sách hướng dẫn Luật Quản lý nợ công và Luật Ngân sách Nhà nước đã được ban hành tạo ra nền tảng pháp lý quan trọng cho hoạt động của thị trường sơ cấp, thứ cấp TPCP cũng như hoạt động tái cơ cấu danh mục nợ TPCP theo hướng bền vững.

Đặc biệt, sau khi Luật Quản lý nợ công năm 2017 được ban hành, toàn bộ khung pháp lý hướng dẫn về  hoạt động phát hành, giao dịch TPCP đã tiếp tục được cải cách, theo đó đổi mới quy trình phát hành TPCP theo phương thức đấu thầu và bảo lãnh phát hành theo thông lệ quốc tế; tạo dựng cơ sở pháp lý cho việc phát triển các sản phẩm mới; thiết lập, vận hành hệ thống nhà tạo lập thị trường đóng vai trò tạo thanh khoản trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp; rút ngắn thời gian từ khâu phát hành đến thanh toán và giao dịch TPCP để tăng tính thanh khoản của trái phiếu; cải tiến hoạt động của thị trường thứ cấp.

Bên cạnh đó, thị trường TPCP đã ngày càng trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn có hiệu quả cho NSNN, công tác phát hành TPCP đã gắn với tái cơ cấu nợ Chính phủ theo hướng bền vững. Trong giai đoạn 2009-2019, kênh phát hành TPCP đã huy động được 1,96 triệu tỷ đồng cho NSNN, bình quân đạt khoảng 175 nghìn tỷ đồng/năm, kênh TPCPBL huy động được 385.151 tỷ đồng, bình quân khoảng 35.014 tỷ đồng/năm; kênh TPCQĐP huy động được 36.924 tỷ đồng, bình quân khoảng 4.615 tỷ đồng/năm. Trong những năm gần đây, kênh huy động vốn TPCP chiếm 75% - 80% trong năm.

Công tác phát hành TPCP đã có những cải cách theo hướng chuyên nghiệp; kế hoạch, lịch biểu phát hành được công bố công khai cho nhà đầu tư ngay từ đầu năm để chủ động về kế hoạch tham gia đấu thầu. Việc công bố thông tin về kết quả đấu thầu, khối lượng, kỳ hạn, lãi suất trúng thầu đã giúp cho các thành viên thị trường, các nhà đầu tư có đầy đủ thông tin về các phiên đấu thầu phát hành TPCP. Phương thức phát hành chủ yếu là đấu thầu theo nguyên tắc cạnh tranh, công khai, minh bạch bảo vệ quyền lợi của nhà đầu tư khi tham gia thị trường.

Đồng thời, công tác phát hành TPCP đã gắn kết với việc tái cơ cấu nợ Chính phủ, thông qua việc tập trung phát hành các kỳ hạn dài khi thị trường thuận lợi, đa dạng hóa cơ sở nhà đầu tư. Theo đó, kỳ hạn phát hành bình quân TPCP đã được kéo dài qua từng năm, đạt 13,6 năm vào cuối tháng 11/2019, cao hơn 9 -10 năm so với giai đoạn 2009 - 2014, trong khi lãi suất phát hành bình quân ở mức 4,58%/năm, thấp hơn 6,4% - 7,6%/năm so với giai đoạn 2009 - 2014. Việc tập trung phát hành TPCP kỳ hạn dài với chi phí huy động vốn hợp lý đã tạo điều kiện cho Chính phủ tăng vay nợ tại thị trường trong nước, giảm vay nợ nước ngoài, góp phần giảm rủi ro của danh mục nợ công.

Sản phẩm TPCP được phát triển ngày càng đa dạng, là công cụ đầu tư an toàn, hiệu quả cho mọi loại hình nhà đầu tư. Trên thị trường TPCP, đã xuất hiện nhiều nhà đầu tư mới bên cạnh các NHTM. Năm 2009, trên thị trường TPCP chỉ có các sản phẩm kỳ hạn từ dưới một năm cho đến 10 năm; đến nay trên thị trường TPCP có đầy đủ các kỳ hạn từ ngắn hạn đến kỳ hạn 20 năm, 30 năm; ngoài ra, còn có các sản phẩm trái phiếu không trả lãi định kỳ, trái phiếu có kỳ trả lãi linh hoạt để đáp ứng nhu cầu đa dạng của các nhà đầu tư là NHTM, hệ thống bảo hiểm, các loại hình quỹ đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài. Tháng 7/2019, sản phẩm phái sinh hợp đồng tương lai TPCP chính thức được triển khai, đem lại cho nhà đầu tư một công cụ phòng vệ rủi ro, góp phần thúc đẩy thanh khoản và hỗ trợ phát triển thị trường TPCP cơ sở.

Cùng với sự phát triển đa dạng về sản phẩm, trên thị trường TPCP ngày càng xuất hiện nhiều nhà đầu tư mới như các loại hình quỹ đầu tư, nhà đầu tư nước ngoài; Bảo hiểm xã hội Việt Nam và các doanh nghiệp bảo hiểm ngày càng tham gia tích cực trên thị trường TPCP. Đặc biệt trên thị trường TPCP đã có sự tham gia của nhà đầu tư 100% vốn nước ngoài. Đến cuối tháng 11 năm 2019, tỷ lệ nắm giữ TPCP của các nhà đầu tư dài hạn đạt 55% (tăng 35% so với cuối năm 2009), của các NHTM giảm xuống mức khoảng 45% (giảm 35% so với cuối năm 2009). Đồng thời, TPCP đã trở thành công cụ hỗ trợ NHNN điều hành chính sách tiền tệ thông qua nghiệp vụ thị trường mở, hoạt động tái cấp vốn.

Cơ sở hạ tầng của thị trường TPCP luôn được cải tiến, nâng cấp, hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của thị trường sơ cấp, thứ cấp. Trong 10 năm qua, cơ sở hạ tầng cho hoạt động đấu thầu phát hành, đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch TPCP luôn được đổi mới và hoàn thiện để rút ngắn thời gian từ khâu phát hành đến đăng ký, lưu ký, niêm yết và giao dịch trên thị trường thứ cấp, tăng tính thanh khoản của trái phiếu. Năm 2009, quy trình từ khi phát hành đến niêm yết, giao dịch TPCP là T+10; năm 2012, quy trình này là T+6 và đến năm 2015 là T+2. Từ ngày 01/08/2017, chức năng thanh toán tiền giao dịch trái phiếu Chính phủ được chuyển từ Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam theo thông lệ quốc tế. Theo đó, hoạt động phát hành, đăng ký, lưu ký, thanh toán, niêm yết và giao dịch TPCP luôn được vận hành an toàn, ổn định và thông suốt, góp phần đáng kể cho việc tăng thanh khoản trên thị trường TPCP.

Hệ thống nhà tạo lập thị trường được phát triển từ các thành viên đấu thầu từng bước đóng vai trò tạo thanh khoản trên thị trường sơ cấp và thứ cấp TPCP. Tại thời điểm hiện nay gồm 15 thành viên là 12 NHTM và 3 công ty chứng khoán, giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động của thị trường sơ cấp, thứ cấp TPCP. Công tác phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, cơ chế đối thoại về chính sách và điều hành thị trường giữa cơ quan quản lý với Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam và các thành viên thị trường được vận hành theo định kỳ, đóng góp có hiệu quả vào việc xây dựng, hoàn thiện khung khổ pháp lý; phát triển thị trường sơ cấp, thứ cấp TPCP theo thông lệ quốc tế.

Một số giải pháp trọng tâm

Theo Vụ Tài chính ngân hàng, trong thời gian tới sẽ tiếp tục thực hiện Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017-2020, tầm nhìn đến 2030 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1191 ngày 14/8/2017; Đề án cơ cấu lại thị trường chứng khoán và doanh nghiệp bảo hiểm đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 242/QĐ-TTg ngày 28/2/2019, trong đó tập trung vào một số giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, đối với thị trường sơ cấp: Gắn kết giữa công tác huy động vốn trái phiếu Chính phủ với điều hành NSNN và quản lý ngân quỹ; xác định cụ thể khối lượng huy động vốn hàng năm, công bố công khai lịch biểu, khối lượng, kỳ hạn phát hành trái phiếu  chi tiết theo hàng quý để nhà đầu tư chủ động bố trí nguồn vốn tham gia. Thực hiện nhịp nhàng việc phát hành TPCP với tái cơ cấu nợ thông qua các nghiệp vụ mua lại, hoán đổi để vừa phát triển thị trường TPCP vừa cơ cấu lại nợ công theo hướng an toàn, bền vững. Phát triển đa dạng các sản phẩm, hàng hóa trên thị trường để đáp ứng nhu cầu của các nhà đầu tư; phát triển sản phẩm TPCP xanh để huy động vốn cho các dự án bảo vệ môi trường phục vụ phát triển kinh tế bền vững, phù hợp với xu hướng phát triển trên thế giới.

Thứ hai, đối với thị trường thứ cấp: Tiếp tục cải tiến mô hình tổ chức thị trường và hệ thống giao dịch, rút ngắn hơn nữa quy trình từ khâu phát hành đến đăng ký, lưu ký, niêm yết, giao dịch và thanh toán trái phiếu phù hợp với định hướng phát triển công nghệ 4.0 để tăng thanh khoản trên thị trường thứ cấp; Đưa vào vận hành hệ thống nhà tạo lập thị trường trên cả thị trường sơ cấp và thứ cấp theo thông lệ quốc tế để tăng thanh khoản của thị trường; Phấn đấu đến năm 2020 tăng khối lượng giao dịch trái phiếu Chính phủ, trái phiếu Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền địa phương lên mức 1% dư nợ trái phiếu niêm yết và năm 2030 là 2% dư nợ trái phiếu niêm yết như mục tiêu đặt ra tại Lộ trình phát triển thị trường trái phiếu giai đoạn 2017-2020 và tầm nhìn đến 2030.

Thứ ba, đối với phát triển cơ sở nhà đầu tư: Phát triển đa dạng hệ thống nhà đầu tư trên thị trường TPCP, ưu tiên phát triển nhà đầu tư dài hạn. Rà soát cơ chế, chính sách để phát triển các Quỹ đầu tư trái phiếu, hệ thống quỹ hưu trí tự nguyện; đổi mới cơ chế đầu tư của Bảo hiểm xã hội Việt Nam theo hướng ngày càng chuyên nghiệp. Đồng thời, phấn đấu đến năm 2021 đưa trái phiếu Chính phủ Việt Nam vào các rổ chỉ số trái phiếu quốc tế như JP Morgan, Bloomberg Barclays, Citi World Government để thu hút các quỹ đầu tư và nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào thị trường trái phiếu Việt Nam.

Thứ tư, tiếp tục phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ: Tăng cường sự liên thông trong cơ chế chính sách và điều hành giữa thị trường tiền tệ và thị trường trái phiếu Chính phủ để nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính. Phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ thông qua các giải pháp: Tạo dựng đường cong lãi suất chuẩn gồm đầy đủ các kỳ hạn từ ngắn hạn của thị trường tiền tệ đến dài hạn của thị trường TPCP để làm tham chiếu trên thị trường tài chính; phối hợp đồng bộ trong việc sử dụng công cụ của chính sách tiền tệ với việc quản lý ngân quỹ nhà nước để hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả; ban hành các công cụ phòng ngừa rủi ro về tỷ giá, lãi suất để tạo dựng thị trường tài chính minh bạch theo thông lệ quốc tế.

Thứ năm, tăng cường cơ chế đối thoại về chính sách và điều hành giữa cơ quan quản lý nhà nước và thành viên của thị trường: Đề nghị các thành viên thị trường trái phiếu tích cực chia sẻ thông tin, tăng cường đối thoại với các đơn vị chức năng của Bộ Tài chính, NHNN, Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia cũng như các Bộ, ban ngành có liên quan. Hiệp hội thị trường trái phiếu Việt Nam với vai trò là cầu nối giữa cơ quan quản lý và thành viên thị trường chủ động tập hợp ý kiến từ các thành viên để đề xuất, kiến nghị với các cơ quan quản lý; đào tạo, hướng dẫn các thành viên của thị trường thực hiện đúng các quy định khi tham gia thị trường; xây dựng, ban hành các chuẩn mực về đạo đức, giao dịch để các thành viên thị trường áp dụng, triển khai.

Thứ sáu, tăng cường hội nhập quốc tế: Tích cực tham gia các chương trình, diễn đàn hợp tác quốc tế và khu vực như  ASEAN, ASEAN +3, Diễn đàn thị trường trái phiếu các nước mới nổi, thị trường trái phiếu xanh để hợp tác trong phát triển thị trường trái phiếu nói chung, thị trường TPCP nói riêng. Tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế như: Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển Châu Á, Đại sứ quán Anh, Cơ quan hợp tác phát triển Đức, Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản, Ban thư ký kinh tế Thụy Sỹ để học tập kinh nghiệm, chia sẻ thông tin nhằm tiếp cận với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế.

Quang Minh