Thu hút vốn FDI vào Tây Nguyên giúp tăng năng lực của các ngành công nghiệp

So với các vùng khác trong cả nước, điều kiện kinh tế - xã hội của Tây Nguyên có nhiều khó khăn thu hút FDI do thiếu lao động lành nghề, cơ sở hạ tầng kém phát triển, mức sống còn thấp...

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Tính lũy kế đến 31/12/2014, đã có tổng số 148 dự án FDI đầu tư vào các tỉnh khu vực Tây Nguyên với tổng vốn đăng ký 819 triệu USD. Bình quân 1 dự án là 5,5 triệu USD (thấp hơn so với bình quân 01 dự án nước ngoài đầu tư tại Việt Nam là 14,2 triệu USD).

Trong giai đoạn từ 2011-20/4/2015, vùng Tây Nguyên có 38 dự án đầu tư nước ngoài được cấp phép với tổng số vốn đầu tư là 122 triệu USD. Trong đó, Lâm Đồng đang đứng đầu vùng với 29 dự án và 74,9 triệu USD vốn đầu tư chiếm  61,5% tổng vốn đầu tư của cả vùng. Đắk Lắk đứng thứ hai với 3 dự án đầu tư với tổng số vốn là 33 triệu USD chiếm 27,1% tổng vốn đầu tư của cả vùng. Đứng thứ ba là Gia Lai với 3 dự án và 7,6 triệu USD vốn đầu tư chiếm 6,3% tổng vốn đầu tư của cả vùng. Hai tỉnh tiếp theo là Kon Tum và Đắk Nông với tổng số vốn đầu tư lần lượt là 3,2 triệu USD và 3 triệu USD.

Đã có 10 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại vùng Tây Nguyên: Hàn Quốc đứng đầu trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào vùng với 14 dự án và 38,6 triệu USD vốn đăng ký chiếm 31,7% tổng vốn đầu tư của toàn vùng; Hà Lan đứng thứ hai với 3 dự án, tổng số vốn đầu tư là 26,2 triệu USD chiếm 21,5%; Hồng Kông đứng thứ ba với 3 dự án và 19,4 triệu USD vốn đăng ký chiếm 15,9 %.

Xét về lĩnh vực đầu tư trong giai đoạn 2011-2015 thì lĩnh vực công nghiệp chế biến chế tạo đứng thứ nhất với 16 dự án với 54,4 triệu USD vốn đăng ký chiếm 44,6% tổng vốn đầu tư của toàn vùng. Đứng thứ hai là lĩnh vực nông lâm, thủy sản với 16 dự án với 20,1 triệu USD vốn đăng ký chiếm 16,5% tổng vốn đầu tư của toàn vùng. Lĩnh vực bán buôn bán lẻ sửa chữa với tổng số vốn là 19,5 triệu USD chiếm 16% tổng vốn đầu tư.

Một số dự án trọng điểm đang hoạt động trên địa bàn vùng:

(1) Công ty TNHH Một thành viên Innovgreen Kon Tum, Hồng Kông  đầu tư, tổng vốn đăng ký là 67 triệu USD, là dự án FDI lớn nhất của tỉnh Kon Tum và của toàn vùng Tây Nguyên với mục tiêu ươm giống cây lâm nghiệp, trồng rừng, khai thác gỗ, chế biến giấy, bột giấy.

(2) Công ty Cổ phần nhiên liệu sinh học MS Việt Nam tại tỉnh Đắk Lắk., Nhật Bản, tổng vốn đầu tư đăng ký là 65 triệu USD với mục tiêu là kinh doanh nhiên liệu sinh học, hàng nông lâm thủy hải sản, phân bón vi sinh.

(3) Công ty TNHH một thành viên đất Đà Lạt, tổng vốn đầu tư đăng ký là 50 triệu USD, do Công ty Pacific Land (Indochina) Ltd, British Virgin Islands đầu tư với mục tiêu đầu tư hạ tầng để chuyển nhượng, cho thuê, xây nhà bán cho thuê, kinh doanh khách sạn. 

Đầu tư nước ngoài trên địa bàn vùng Tây Nguyên đóng góp tích cực vào phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng theo hướng phù hợp với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Nhìn chung cơ cấu sử dụng vốn FDI trong thời gian qua đã có sự điều chỉnh phù hợp với tiềm năng của vùng và theo hướng gia tăng tỷ trọng dịch vụ. Góp phần tích cực nâng cao năng lực sản xuất, tạo ra nhiều ngành, nghề, sản phẩm mới; tăng sức cạnh tranh cho nhiều sản phẩm và doanh nghiệp. Đầu tư nước ngoài đã góp phần làm tăng đáng kể năng lực của các ngành công nghiệp khu vực Tây Nguyên.

Khả năng hấp thụ vốn thấp

Tuy nhiên, cơ cấu nguồn vốn đầu tư thu hút vào Tây Nguyên chưa hợp lý, chủ yếu là vốn ngân sách nhà nước, trái phiếu Chính phủ, vốn BT, BOT nhưng thu hút ODA, FDI và đầu tư của doanh nghiệp trong nước chiếm tỷ trọng rất nhỏ so với cả nước xét trên 2 tiêu chí số dự án và số vốn đầu tư. Một số công trình giao thông quan trọng, huyết mạch trong vùng đã được đầu tư nhưng tốc độ chậm, để kéo dài như tuyến đường Hồ Chí Minh có một số đoạn làm BT, BOT chậm, các tuyến Quốc lộ...  Cây công nghiệp dài ngày như cà phế, cao su, hồ tiêu và các nông lâm sản là thế mạnh của Tây Nguyên, nhưng việc thu hút đầu tư vào chế biến các sản phẩm này còn ít, chưa tạo ra được chuỗi giá trị cao, bền vững.

Việc thu hút, sử dụng và quản lý vốn ODA và FDI trong thời gian qua tại các tỉnh trong vùng Tây Nguyên đã bộc lộ một số hạn chế, bất cập. Đó là khả năng hấp thụ nguồn vốn còn khiêm tốn, trong khi Tây Nguyên đang có nhu cầu lớn về vốn; việc thu hút các dự án đầu tư công nghệ cao còn hạn chế; chuyển giao công nghệ còn chậm; còn có doanh nghiệp FDI sử dụng công nghệ lạc hậu, tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm môi trường; mối liên kết ngang và dọc giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước chưa cao; tình trạng tranh chấp lao động còn diễn ra ở một số nơi, ảnh hưởng không tốt đến môi trường đầu tư.

Kết quả thu hút đầu tư nước ngoài tại các địa phương vùng Tây Nguyên còn thấp, trừ Lâm Đồng, Đắk Lắk, Gia Lai có số dự án và vốn đầu tư tương đối lớn còn lại các tỉnh khác đầu tư nước ngoài không đáng kể; tác động không nhiều đến phát triển kinh tế của các địa phương trong vùng. Thu hút vốn FDI bước đầu đạt được một số kết quả nhưng còn khiêm tốn, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có của Tây Nguyên trong các lĩnh vực về tài nguyên khoáng sản, thắng cảnh du lịch, nguồn nhân lực,...và chưa tương xứng với yêu cầu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Quy mô bình quân dự án không lớn.

Lý giải nguyên nhân, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng: Hạ tầng kinh tế - xã hội chủ yếu của Tây Nguyên, nhất là giao thông đường sắt còn hạn chế đã ảnh hưởng đến thu hút đầu tư, nhất là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng. Thêm vào đó, nguồn nhân lực vùng Tây Nguyên tuy dồi dào nhưng tỷ lệ lao động qua đào tạo thấp, nguồn nhân lực có trình độ cao còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu về lao động của các doanh nghiệp nói chung, trong đó có doanh nghiệp FDI. Hạn chế đã tồn tại từ nhiều năm trước, nhưng trong thời gian gần đây càng trở nên bức xúc hơn khi thu hút FDI các dự án sử dụng công nghệ cao, hiện đại. Các nhà đầu tư nước ngoài cho rằng thiếu công nhân lành nghề là nguyên nhân quan trọng nhất khiến cho họ không sử dụng hết công suất. Vì vậy, lợi thế về nguồn nhân lực dồi dào với chi phí thấp của Việt Nam nói chung và Tây Nguyên nói riêng đang giảm dần.

Mặt khác, cũng do chưa có một quy hoạch tổng thể làm căn cứ cho việc chủ động thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA. Các văn bản pháp lý còn thiếu và chưa đồng bộ. Trình độ, năng lực quản lý và giám sát của các ban quản lý dự án còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, thiếu kiến thức về quản lý, tài chính … Việc bố trí vốn đối ứng còn thiếu hoặc chưa kịp thời và tâm lý dựa vào vốn đối ứng từ hỗ trợ của ngân sách trung ương vẫn còn nặng. Nhiều dự án bị chậm tiến độ đã cam kết với nhà tài trợ do vốn đối ứng không cân đối đủ theo yêu cầu. Thời gian qua, mặc dù công tác vận động xúc tiến đầu tư ODA và FDI đã có nhiều cải tiến. Tuy nhiên, hiệu quả của công tác này chưa cao, hoạt động xúc tiến đầu tư còn giàn trải, phân tán nguồn lực, chưa tập trung vào các đối tác, lĩnh vực trọng điểm; chưa có sự thống nhất điều phối để đảm bảo sự tập trung thực hiện đúng mục tiêu thu hút ODA và FDI trên từng địa bàn, từng đối tác.

Đặc biệt, các ngành công nghiệp hỗ trợ của Tây Nguyên phát triển chậm, chưa đáp ứng được nhu cầu về nguyên liệu đầu vào cho sản xuất của các doanh nghiệp FDI. Do đó, các doanh nghiệp phải nhập khẩu phần lớn các linh phụ kiện đầu vào, làm tăng chi phí, giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chưa đáp ứng được yêu cầu về việc hình thành chuỗi giá trị. Đồng thời, Tây Nguyên chỉ phát triển được đường Bộ và đường hàng không nên chi phí sản xuất tại Tây Nguyên cao hơn so với các vùng khác trong cả nước. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến xu hướng đầu tư của các nhà đâu tư.

Định hướng thu hút vốn

Bên cạnh việc đẩy mạnh xã hội hóa các nguồn vốn đầu tư giai đoạn 2016-2020 trên vùng Tây Nguyên, cần tập trung huy động vốn Ngân sách Nhà nước, Trái phiếu Chính phủ để đầu tư đồng bộ các đoạn tuyến còn lại của các Quốc lộ trên toàn vùng Tây Nguyên. Riêng với ngành công nghiệp, tăng cường thu hút đầu tư các dự án chế biến sâu từ Alumin, phát triển các dự án sản xuất nhôm và sản xuất các sản phẩm sau nhôm; Hoàn thành đầu tư Dự án Nhà máy Giấy & Bột giấy Tân Mai; Tiếp tục thu hút đầu tư trên cơ sở phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng địa phương vùng Tây Nguyên, phát triển mạnh công nghiệp, ưu tiên phát triển ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản, hướng vào chế biến các sản phẩm có lợi thế về nguyên liệu; Phát triển công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, trong đó tập trung vào khai thác bô xít và chế biến alumin xác định thành một trong những ngành công nghiệp lớn của cả nước; Phát triển ngành cơ khí chế tạo tập trung phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm, chế biến lâm sản, khai thác chế biến khoáng sản, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn. Trong giai đoạn 2016-2020 tiếp tục đầu tư để hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng cho 2 cửa khẩu: Cửa khẩu Lệ Thanh đầu tư dự án đường giao thông khu trung tâm khu kinh tế; cửa khẩu Bờ Y đầu tư 03 dự án: Xây dựng cơ sở hạ tầng khu kiểm tra chung một cửa một lần dừng cử khẩu quốc tế Bờ Y; Xây dựng đường giao thông nội bộ phía Bắc, nâng cấp đường nội bộ trạm kiểm soát liên hợp đường D8 và D10 Khu I; Nâng cấp đường nội bộ.

Căn cứ tình hình thu hút và sử dụng ODA trong thời gian qua, định hướng thu hút và sử dụng ODA và vốn vay ưu đãi trong thời kỳ 2016-2020 cần tập trung vào những nhà tài trợ lớn, đặc biệt Nhóm 6 Ngân hàng phát triển để phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế hiện đại, cơ sở hạ tầng tiên tiến, tạo ra những "cú huých" và "tác động lan tỏa" thúc đẩy phát triển thương mại, đầu tư các vùng và khu vực phát triển trọng điểm. Đồng thời tận dụng hỗ trợ kỹ thuật và viện trợ không hoàn lại của một số nhà tài trợ khác để hoàn thiện thể chế, tăng cường năng lực, chuyển giao kỹ thuật và công nghệ, hỗ trợ phát triển các địa phương trên các lĩnh vực y tế, giáo dục, môi trường, xóa đói giảm nghèo...

Bộ Kế hoạch và Đầu tư sẽ phối hợp vận động, kêu gọi các nhà tài trợ đa phương và song phương. Đặc biệt vùng tam giác phát triển 3 nước Việt Nam-Lào-Campuchia cần chuẩn bị các dự án hạ tầng kết nối của các tỉnh biên giới do ADB tài trợ.

Để việc thu hút đâu tư trực tiếp nước ngoài vào Tây Nguyên được tăng lên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng vùng Tây Nguyên cần xây dựng chiến lược và quy hoạch tổng thể thu hút FDI. Đây là bước quan trọng đầu tiên, là cơ sở nền móng để đẩy mạnh thu hút FDI trong những năm sắp tới. Trước mắt, tập trung vào các quy hoạch trọng điểm (phát triển kinh tế cửa khẩu, thương mại, du lịch và dịch vụ) và quy hoạch các dự án gọi vốn FDI. Triển khai các giải pháp nâng cao hiệu qủa quản lý nhà nước, cải tiến thủ tục hành chính, rà soát các dự án FDI đang hoạt động trên địa bàn để tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện cho các dự án đạt hiệu quả.

Trong thời gian tới, chú trọng công tác đào tạo, cung ứng và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính theo hướng “một cửa liên thông, một đầu mối” để tạo thuận lợi cho việc thu hút đầu tư. Cải tiến mạnh thủ tục hành chính liên quan đến các hoạt động đầu tư theo hướng tiếp tục đơn giản hoá việc cấp phép đầu tư, mở rộng phạm vi các dự án thuộc diện đăng ký cấp phép đầu tư. Quy định rõ ràng, công khai các thủ tục hành chính, đơn giản hoá và giảm bớt các thủ tục không cần thiết; kiên quyết xử lý nghiêm khắc các trường hợp sách nhiễu, cửa quyền, tiêu cực và vô trách nhiệm của cán bộ công quyền.

Để hoạt động xúc tiến đầu tư có hiệu quả, các cơ quan chuyên trách cần triển khai và đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu một số đối tác tiềm năng. Xây dựng hệ thống thông tin về môi trường đầu tư, hệ thống phần mềm quản lý dữ liệu của các dự án FDI, trao đổi thông tin hai chiều giữa Sở Kế hoạch và Đầu tư và các doanh nghiệp. Từ đó, các địa phương có chính sách mời gọi hợp lý trên cơ sở cân nhắc điều kiện của các doanh nghiệp và lĩnh vực, ngành nghề mà mỗi địa phương cần đầu tư.

(T.Hương)