Thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường

Sáng ngày 14/9, Viện Nghiên cứu Thương mại - Bộ Công Thương phối hợp với Dự án Hỗ trợ chính sách thương mại và đầu tư của châu Âu (EU-MUTRAP) tổ chức hội thảo “Tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường tại Việt Nam”. Tham gia Hội thảo gồm đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, các Viện nghiên cứu có liên quan đến chiến lược và chính sách thương mại, các trường Đại học.

Thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường

Bức tranh toàn cảnh

Phát biểu khai mạc tại Hội thảo, ông Phạm Nguyên Minh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu thương mại, Bộ Công Thương nhận định, tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường hiện nay được xem là công cụ hỗ trợ hiệu quả đối với thực hiện tăng trưởng xanh. Cụ thể:

Thứ nhất, góp phần hình thành một lĩnh vực kinh tế mới với các sản phẩm hàng hóa môi trường và các hoạt động cung cấp dịch vụ môi trường.

Thứ hai, tạo ra những động lực để thúc đẩy phát triển bền vững thông qua tăng cường khả năng tiếp cận các công nghệ, máy móc, thiết bị, và cung ứng dịch vụ về môi trường với giá rẻ trong các lĩnh vực như xử lý nước thải, khí thải, xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại, phục hồi đất và nước, thu hồi và lưu trữ các bon, sản xuất năng lượng tái tạo thông các cắt giảm về thuế quan và loại bỏ các rào cản thương mại, qua đó, góp phần giảm thiểu các chi phí cho hoạt động bảo vệ môi trường.

Thứ ba, đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ giảm thiểu ô nhiễm trong sản xuất, chế biến và thải bỏ; gia tăng hiệu quả sử dụng tài nguyên và năng lượng;

Thứ tư, đó là mở rộng sản xuất và phát triển thị trường đối với các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ mà quá trình sản xuất, chế biến, sử dụng và thải bỏ ít gây ô nhiễm môi trường hơn các sản phẩm thông thường khác.

Thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường ảnh 1

Ông Phạm Nguyên Minh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu thương mại, Bộ Công Thương phát biểu khai mạc Hội thảo.

Nhận thức được tầm quan trọng trong phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ môi trường, trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách để định hướng, thúc đẩy phát triển. Luật Bảo vệ Môi trường 2014 đã chỉ rõ nhà nước đầu tư và có chính sách hỗ trợ, ưu đãi đối với cá nhân, tổ chức tham gia vào phát triển sản xuất hàng hóa môi trường và cung cấp dịch vụ môi trường. Phát triển hàng hóa và dịch vụ môi trường cũng được xem là một nội dung quan trọng trong "Kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng Xanh cho giai đoạn 2014 - 2020" nhằm đảm bảo thành công thực hiện các mục tiêu của Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng Xanh thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2050". Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đã ban hành "Đề án phát triển ngành công nghiệp môi trường đến năm 2015 và tầm nhìn đến 2025"; "Đề án phát triển ngành dịch vụ môi trường đến năm 2015"...

Ông Phạm Nguyên Minh cũng cho biết, năm 2014, thương mại toàn cầu đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường đạt khoảng 4 nghìn tỷ USD và ước tính đạt 10 nghìn tỷ USD vào năm 2020 với tốc độ tăng trưởng rất cao.

Theo đó, Hoa Kỳ hiện nay là quốc gia đi đầu trong đầu tư sản xuất và thương mại đối với hàng hóa môi trường với xuất khẩu đạt 106 tỷ USD vào năm 2013 và tốc độ tăng trưởng luôn ổn định vao trên 8%/năm, tiếp đến là EU và gần đây là Trung Quốc và Ấn Độ. Thị trường Việt Nam vào khoảng 20 tỷ USD trong năm 2014, chiếm 0.5% thị trường toàn cảnh và đứng thứ 33 trong tóp 50 quốc gia trên thị trường hàng hóa và dịch vụ môi trường trên thế giới.

Tuy nhiên, ông Minh cũng thẳng thắn nhìn nhận, sự phát triển hàng hóa và dịch vụ môi trường của Việt Nam (EGS) hiện nay rất yếu chưa tương xứng với thị trường và nhu cầu trong nước, thị trường của Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung vào nhập khẩu máy móc, công nghệ từ nước ngoài với hơn 80% dung lượng thị trường.

Tại Việt Nam, trong khi ngành dịch vụ môi trường như xử lý nước thải, rác thải đã góp phần xử lý được 30 - 35% nhu cầu về bảo vệ môi trường, thì sản xuất hàng hóa môi trường phục vụ cho các hoạt động này chưa phát triển với chỉ có 15 doanh nghiệp trên tổng số 1.016 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ môi trường năm 2014 với các mặt hàng như hệ thống lọc khí, bụi, lò đốt, chất thải nguy hại và thông thường, các thiết bị công nghệ phân loại rác, sản xuất phân compost, viên nhiên liệu. Số lượng các doanh nghiệp hoạt động chủ yếu là các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Các dự án đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực này tập trung chủ yếu và lĩnh vực xử lý rác thải sinh hoạt tại thành phố Hồ Chí Minh. Trên khía cạnh FDI ra nước ngoài, số liệu thống kê mới ghi nhận có 3 dự án với tổng số vốn 9,4 triệu USD liên quan đến dịch vụ EGS.

Nhiều thách thức

Một trong những nguyên nhân dẫn tới thực trạng hàng hóa và dịch vụ môi trường chưa thực sự phát triển tại Việt Nam chính là việc chưa có nền tảng cơ bản mà cụ thể ở đây là khái niệm, định nghĩa một cách thống nhất cũng như danh mục chuẩn về hàng hóa và dịch vụ môi trường. Điều này cũng là vấn đề hiện nay của nhiều nước trên thế giới.

Thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường ảnh 2

Bà Trương Thị Thanh Huyền, Ban nghiên cứu môi trường và phát triển thương mại bền vững, Viện nghiên cứu thương mại, Bộ Công Thương trình bày tham luận tại hội thảo.

Thạc sỹ Trương Thị Thanh Huyền, Ban nghiên cứu môi trường và phát triển thương mại bền vững, Viện nghiên cứu thương mại, Bộ Công Thương nhận xét, mỗi một tổ chức quốc tế, một quốc gia đều tự đưa ra một khái niệm, danh mục khác nhau.

Theo WTO, dịch vụ môi trường nằm trong 12 lĩnh vực thuộc danh mục phân ngành dịch vụ được chia thành 4 nhóm chính (nước thải, rác thải, vệ sinh, môi trường khác). Còn theo OECD, dịch vụ môi trường sẽ bao gồm: Quản lý ô nhiễm, xây dựng lắp đặt thiết bị để quản lý ô nhiễm; Cung cấp công nghệ và sản phẩm sạch hơn; Cung cấp công nghệ và sản phẩm nhằm giảm bớt những rủi ro môi trường, giảm thiểu ô nhiễm và việc sử dụng các nguồn lực. Hay theo diễn đàn thương mại và phát triển của LHQ UNCTAD, dịch vụ môi trường sẽ bao gồm: Dịch vụ hạ tầng môi trường, Dịch vụ như thiết kế, xây dựng, lắp đạt, vận hành; Phục hồi gồm làm sạch địa điểm, phản ứng khẩn cấp đối với các sự cố, phục hồi, đánh giá; Dịch vụ hỗ trợ môi trường gồm phân tích, moinitoring, luật pháp, tham vấn, kiểm toán R&D. Riêng ở Việt Nam, theo quyết định số 39/2010/QĐ- TTg ngày 11/5/2010, hàng hóa và dịch vụ môi trường trong ngành kinh tế Việt Nam được quy định trong mã ngành E và tại đó chỉ có 4 mã ngành con.

Đó cũng là một thách thức lớn trong quá trình đàm phán song phương và đa phương giữa Việt Nam với các nước và giữa các nước trên thế giới với nhau. Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường đang dần trở thành những nội dung quan trọng trong các đàm phán thương mại đa phương, song phương, cũng như các khuôn khổ hợp tác quốc tế, nhất là đối với công nghệ, thiết bị về năng lượng tái tạo, các bon thấp và công nghệ môi trường. WTO, OECD và APEC hiện nay đang là những tổ chức quốc tế dẫn đầu trong thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại về hàng hóa và dịch vụ môi trường thông qua hình thành Hiệp định thương mại riêng trong khuôn khổ các tổ chức.

Thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường ảnh 3

Ông Trần Huy Hoàn, chuyên gia Dự án EU-MUTRAP trình bày tham luận về các cam kết quốc tế về tự do hóa thương mại với hàng hóa và dịch vụ môi trường tại Việt Nam.

Từ năm 2014 đến nay, Hoa Kỳ cũng luôn là nước đi đầu trong thúc đẩy một Hiệp định về hàng hóa môi trường (EGA) dự vào danh mục 54 hàng hóa môi trường đã được phân loại bởi APEC. Nhóm này gồm 17 nền kinh tế chiếm tới 86% thị trường hàng hóa môi trường toàn cầu như: Hoa Kỳ, Trung Quốc, Úc, Canada EU, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, New Zealand, Thụy Sỹ, Đài Loan.

Ông Trần Huy Hoàn, chuyên gia Dự án EU-MUTRAP cho biết thêm, do chưa có khái niệm thống nhất toàn cầu nên bản thân việc xây dựng danh mục hàng hóa và dịch vụ môi trường trong các tổ chức thương mại đa phương cũng như tại Việt Nam đang còn nhiều khó khăn, gây ảnh hưởng tới quá trình đàm phán hiệp định giữa các nước.

"Trong quá trình đàm phán, các quốc gia khác nhau về quan điểm và lợi ích sẽ chỉ tập trung vào những hàng hóa, dịch vụ có lợi cho quốc gia họ. Ví dụ như các nước phát triển hiện nay đang tập trung và năng lượng tái tạo và hiệu quả, trong khi các nước đang phát triển tập trung vào quản lý chất thải, nước thải" - ông Trần Huy Hoàn tổng kết.

Với nhiều nỗ lực, hiện nay Việt Nam đã tạo được cơ sở pháp lý ban đầu về hàng hóa dịch vụ môi trường, bước đầu hình thành đội ngũ các chủ thể cung cấp EGS dưới nhiều hình thức tổ chức khác nhau, mở rộng đầu tư của Nhà nước tạo đà phát triển cho EGS... Tuy nhiên để đạt được bước tiến trong việc thúc đẩy quá trình tự do hóa thương mại đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường thì sẽ còn nhiều khó khăn, không chỉ riêng Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới.

(T.Hằng)