Tranh thủ "ngoại lực" FDI cho đầu tư phát triển

Việt Nam đang tranh thủ "ngoại lực" đầu tư trực tiếp nước ngoài cho đầu tư phát triển đất nước, chính vì thế, việc cải thiện môi trường kinh doanh mà trước mắt là thay đổi cơ chế và thủ tục hành chính là những bước đi đang được Chính phủ thực hiện.

Thứ trưởng Đặng Huy Đông. Ảnh: TH.Thứ trưởng Đặng Huy Đông. Ảnh: TH.

Theo Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông tại Hội thảo định hướng nâng cao hiệu quả thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài tổ chức hôm nay, ngày 16/5, Việt Nam đang phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để đạt được mục tiêu đó, đòi hỏi vừa phải phát huy nội lực, đồng thời tranh thủ ngoại lực cho đầu tư phát triển, trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài (ĐTNN) đóng vai trò rất quan trọng.

Nhìn lại chặng đường hơn 25 năm đổi mới, kể từ khi Quốc hội ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam vào năm 1987, có thể thấy, dòng vốn ĐTNN đã trở thành một động lực quan trọng thúc đẩy quá trình hội nhập quốc tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Với 16.323 dự án còn hiệu lực có tổng vốn đăng ký khoảng 237 tỷ USD tính đến tháng 4/2014, ĐTNN đã bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu tư phát triển, góp phần tăng năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp, gia tăng kim ngạch và thay đổi cơ cấu mặt hàng xuất khẩu, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế, tăng nguồn thu cho ngân sách, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và trực tiếp tạo công ăn việc làm cho người lao động. Đồng thời, ĐTNN cũng đã có tác động lan tỏa tích cực, thúc đẩy hoàn thiện hành lang pháp lý và cải thiện môi trường đầu tư - kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong nước, góp phần đưa Việt Nam từng bước tham gia chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu.

Kết quả thu hút ĐTNN đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới, mở cửa hội nhập quốc tế của Đảng và Nhà nước. Đạt được kết quả này có phần đóng góp quan trọng của hành lang pháp lý về đầu tư - kinh doanh đang ngày một hoàn thiện, trong đó có các Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp ban hành năm 2005. Các luật này là những bước tiến quan trọng trong việc áp dụng một khung pháp luật chung về đầu tư, doanh nghiệp cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, tạo ra những tác động tích cực vào việc tạo lập một môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, thúc đẩy huy động vốn và phát triển kinh doanh của các doanh nghiệp.

Rà soát bất cập trong thủ tục đầu tư

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút ĐTNN trong khu vực và trên thế giới diễn ra gay gắt, hoạt động ĐTNN tại Việt Nam đang gặp không ít khó khăn, thách thức. Đồng thời, bên cạnh những kết quả tích cực đã đạt được, việc thu hút và quản lý hoạt động ĐTNN thời gian qua còn nhiều hạn chế cần sớm khắc phục, trong đó có những hạn chế liên quan đến các thủ tục hành chính về đầu tư - kinh doanh. Vì vậy, việc rà soát, đánh giá đầy đủ các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động đầu tư, nhất là những vướng mắc, bất cập của các quy định về điều kiện, thủ tục đầu tư quy định tại Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư và các văn bản pháp luật liên quan khác, trên cơ sở đó hoàn thiện hành lang pháp lý về đầu tư - kinh doanh là một nhiệm vụ trọng tâm trong việc thực hiện các giải pháp đồng bộ nhằm cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực quản lý nhà nước về ĐTNN.

Bảo đảm tính đồng bộ, nhất quán, rõ ràng trong các quy định về đầu tư - kinh doanh, khuyến khích ĐTNN vào các lĩnh vực mà Việt Nam ưu tiên phát triển cũng là một nội dung chính trong Nghị quyết số 103/NQ-CP ngày 29/8/2013 của Chính phủ về định hướng nâng cao hiệu quả thu hút, sử dụng và quản lý ĐTNN trong thời gian tới, đồng thời là quan điểm chỉ đạo trong tiến trình sửa đổi các Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp hiện hành.

Thời gian qua, thực hiện chỉ đạo của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã chủ trì soạn thảo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp sửa đổi và tổ chức nhiều diễn đàn, hội thảo để lấy ý kiến góp ý từ cộng đồng các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong và ngoài nước, các nhà quản lý, các chuyên gia pháp luật và kinh tế. Rất nhiều ý kiến đóng góp đã được gửi tới các Ban soạn thảo các dự thảo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp sửa đổi để tiếp thu, hoàn thiện, trong đó có những ý kiến thống nhất và những quan điểm còn khác nhau trong nhiều nội dung của các dự thảo.

Dự thảo Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp sửa đổi, và đưa ra những đề xuất sửa đổi, bổ sung có tính khả thi nhằm đưa các đạo luật mới đi vào cuộc sống, tạo ra được bước chuyển biến mạnh mẽ trong hoạt động thu hút và quản lý ĐTNN, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư, doanh nghiệp tiếp cận thị trường và mở rộng hoạt động làm ăn chính đáng tại Việt Nam.

Theo TS. Nguyễn Đình Cung, Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, thực tế cho thấy Luật Doanh nghiệp và các nghị định hướng dẫn thi hành đã có những tác động tích cực trong tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng; thúc đẩy huy động vốn, phát triển và mở rộng kinh doanh của các doanh nghiệp; góp phần duy trì tăng trưởng và giải quyết các vấn đề xã hội. Tuy vậy, đánh giá thực tế hơn 8 năm triển khai thực hiện Luật Doanh nghiệp cho thấy những khó khăn, vướng mắc trong gia nhập thị trường, tổ chức quản lý và hoạt động của doanh nghiệp, đã cản trở hoàn thiện và nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh nói chung.

Về thành lập doanh nghiệp, so sánh quốc tế và khu vực, thủ tục thành lập doanh nghiệp và khởi sự kinh doanh ở nước ta vẫn còn phức tạp, tốn kém về thời gian và chi phí. Theo cách tính của Ngân hàng thế giới năm 2013,  khởi sự kinh doanh ở nước ta gồm 10 thủ tục với tổng thời gian vào khoảng 34 ngày, và xếp hạng thứ 109 trên 189 quốc gia và nền kinh tế. Ngoài ra còn có sự khác biệt không cần thiết về thủ tục thành lập doanh nghiệp, mua cổ phần, phần vốn góp, chuyển nhượng vốn, mở chi nhánh, văn phòng đại diện, thay đổi địa điểm trụ sở chính,... giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài, giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Thêm nữa, theo ông Cung, các khái niệm về vốn công ty, đặc biệt đối với công ty cổ phần chưa đủ rõ ràng, chưa thật chặt chẽ và có sự chưa thống nhất giữa quy định của Luật Doanh nghiệp và văn bản hướng dẫn thi hành. Quy định về tiến độ góp vốn kéo dài đến 3 năm kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với công ty trách nhiệm hữu hạn đã không đạt được mục tiêu dự kiến, mà còn gây ra tác động không mong muốn như: nhầm lẫn về vốn điều lệ, nhầm lẫn về cơ cấu sở hữu. Chưa có quy định đầy đủ, cụ thể và hợp lý về chào bán cổ phần riêng lẻ đối với công ty cổ phần không phải là đại chúng, gây khó khăn, thậm chí cản trở việc huy động thêm vốn, mở rộng kinh doanh của không ít công ty cổ phần.

Nhiều ý kiến trái chiều

Sau hơn 8 năm triển khai thi hành, bên cạnh những kết quả tích cực, Luật Đầu tư đã bộc lộ một số hạn chế cần phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung. Những hạn chế này đã làm cho môi trường đầu tư trở nên kém hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang phải đối mặt với xu hướng cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài ngày càng gay gắt từ các nước trên thế giới và trong khu vực. Theo đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp, so với một số nước trong Khu vực thì hệ thống pháp luật và thủ tục hành chính của nước ta vẫn chưa thật sự đáp ứng  kỳ vọng của nhà đầu tư. Bên cạnh đó, quá trình tái cấu trúc nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng chất lượng, hiệu quả và hội nhập sâu rộng hơn với khu vực và thế giới đã và đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách trong đó có Luật Đầu tư để thích ứng với đòi hỏi cao hơn của quá trình phát triển kinh tế- xã hội cũng như thực hiện cam kết quốc tế về tự do hóa đầu tư. Theo Luật Đầu tư sửa đổi, việc cấp phép cũng được thay đổi theo hướng cơ quan cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư có văn bản chấp thuận chủ trương thực hiện dự án đầu tư cho nhà đầu tư trong thời hạn 45 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ (Khoản 2 Điều 44). Văn bản chấp thuận chủ trương thực hiện dự án đầu tư theo quy định tại Khoản 2 Điều này là cơ sở để triển khai dự án đầu tư.

Còn Luật Doanh nghiệp sửa đổi lần này quy định bãi bỏ yêu cầu về chứng chỉ hành nghề, xác nhận vốn pháp định tại thời điểm đăng ký doanh nghiệp, không ghi ngành nghề kinh doanh trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (trừ ngành nghề kinh doanh có điều kiện theo quy định của pháp luật), kết hợp đồng thời thủ tục đăng ký doanh nghiệp với thủ tục về thuế, đăng ký lao động và bảo hiểm xã hội. Đồng thời bổ sung áp dụng thống nhất thủ tục về thành lập doanh nghiệp, góp vốn, mua hoặc chuyển nhượng cổ phần, phần vốn góp, không phân biệt nhà đầu tư trong nước và nước ngoài.

Áp dụng thống nhất thời hạn thanh toán đủ phần vốn góp, cổ phần đã đăng ký mua khi thành lập doanh nghiệp là 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cho mọi loại hình doanh nghiệp (thời hạn hiện nay là 3 năm đối với công ty trách nhiệm hữu hạn).

Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Công Ái, Phó Tổng giám đốc KPMG, việc dự thảo tăng thời gian để cơ quan xem xét cấp phép từ 30 lên 45 ngày là bước lùi. Điều này làm dễ cho cơ quan cấp phép nhưng lại làm khó cho nhà đầu tư. Ngoài ra, quy định thời gian góp vốn trong 90 ngày thay vì 3 năm như trước đây cũng được ông Ái cho là vô lý vì đầu tư dự án 10 tỷ USD mà phải góp trong 90 ngày là quy định cứng nhắc bởi việc góp vốn còn phải tùy thuộc tiến độ dự án.
 
"Hiện nay, cơ quan cấp phép của Việt Nam cần có sự thống nhất từ trung ương đến địa phương để bớt thời gian cấp phép cho nhà đầu tư. Do đó, tôi đề xuất hơi trái chiều là giữ nguyên điều kiện thành lập DN với thẩm tra dự án đầu tư như quy định hiện hành, đồng thời, giữ nguyên thời gian cấp phép và góp vốn điều lệ. Bên cạnh đó, với ngành nghề kinh doanh có điều kiện nên có văn bản thống nhất quy định ngành nghề kinh doanh có điều kiện và điều kiện cụ thể là gì, tránh tình trạng quy định tản mác như hiện nay. Đặc biệt, phải có quy định thực tế cũng như chế tài xử lý cho các cơ quan quản lý nếu không thực thi theo pháp luật. Thực tế cho thấy, hiện thời gian cấp phép đang là 3 tháng, thậm chí là 3 năm chứ không phải là 30 ngày như quy định. Chính vì thế, cần có các quy định chặt chẽ trong việc đảm bảo thực thi pháp luật." - Phó Tổng giám đốc KPMG bức xúc...
 
(T.Hương)