UNDP: Việt Nam cần tiến dần dỡ bỏ trợ giá nhiên liệu hóa thạch

Đó là khuyến nghị của Liên hợp quốc tại Hội thảo đối thoại chính sách về tăng trưởng xanh và chính sách tài khóa về nhiên liệu hóa thạch ở Việt Nam diễn ra ngày 18/6, tại Hà Nội.

Tăng giá trong bối cảnh còn độc quyền rất nguy hiểm. Ảnh: TH.Tăng giá trong bối cảnh còn độc quyền rất nguy hiểm. Ảnh: TH.
Trợ giá có lợi cho người giầu hơn người nghèo
 
Bà Michaela Prokop, Cố vấn chính sách về Kinh tế của UNDP cho rằng, mặc dù Chính phủ cam kết theo hướng tăng trưởng xanh và tái cấu trúc ngày điện bao gồm thay đổi giá, trợ giá nhiên liệu hóa thạch vẫn còn lớn và chủ yếu dưới hình thức gián tiếp thông qua các hình thức ưu đãi cho các nhà sản xuất và phân phối năng lượng, phần lớn là các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), ví dụ các khoản vay lãi suất thấp hoặc ưu đãi, chi phí thấp đối với đầu vào như đất đai và than (cho phát điện). Cụ thể, Việt Nam dành 1,2 tỷ đến 4,5 tỷ USD trợ cấp trong mỗi năm từ 2007-2012.  Trong khi đó, giá năng lượng của Việt Nam thấp so với các nước khác trong khu vực. Mặc dù đã có tăng giá đáng kể, giá bán lẻ trung bình không thay đổi trong giai đoạn từ năm 2008-2013, trên thực tế là thấp hơn so với thời kỳ 5 năm trước đó, khi tính theo giá cố định năm 2002 có tính đến các yếu tố lạm phát.
 
Tuy nhiên, theo chuyên gia Kinh tế độc lập Phạm Chi Lan, việc báo cáo của UNDP cho rằng giá năng lượng của Việt Nam thấp hơn so với quốc tế là do mức thuế môi trường thấp và trợ cấp của nhà nước là không phù hợp. Bởi Việt Nam có những nguồn tài nguyên cơ bản để tạo ra sản phẩm gồm nước, than, thủy điện, khí đốt… nên giá thấp hơn so quốc gia khác. Trợ giá của Chính phủ chỉ thông qua điều kiện tín dụng, vốn, đất đai... còn trợ giá trực tiếp không hẳn của Nhà nước. Báo cáo chưa tính đủ mức trợ giá của Chính phủ, vì vậy, không thể lấy giá của nước khác áp cho giá của Việt Nam. Đối với đối tượng nghèo cần hỗ trợ, bà Phạm Chi Lan chứng minh dù theo UNDP giá điện không tăng lên nhưng người nghèo vẫn đang phải trả giá điện thực tế cao hơn trước do tác động của lạm phát.
 
Tiến sĩ Pratibha Mehta, Điều phối viên thường trú LHQ tại Việt Nam nhấn mạnh sự cần thiết phải đẩy nhanh các nỗ lực cải cách năng lượng nếu Việt Nam muốn phát triển theo hướng tăng trưởng bền vững và bao trùm hơn.  Thực tế, trợ giá dẫn tới nguồn thu của Nhà nước bị mất đi và mức nợ của các DNNN trong lĩnh vực năng lượng tăng lên, và người dân nộp thuế sẽ phải gánh nợ. Trợ giácó tính lũy thoái tương đối, tức là mang lại nhiều lợi ích cho người giầu hơn người nghèo và người dân Việt Nam phải trả một giá rất đắt cho trợ giá năng lượng. Ngoài ra, trợ giá dẫn tới sự thiếu hiệu quả và đưa lại rất ít động lực để cải thiện hiệu quả năng lượng.
 
Lợi ích của việc dỡ bỏ trợ giá nhiệu liệu hóa thạch và áp dụng định giá carbon, bao gồm nâng cao hiệu suất năng lượng, tăng nguồn cung năng lượng, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia và tăng trưởng GDP cao hơn trong trung hạn. Đồng thời, sẽ giúp giải phóng nguồn lực cho các lĩnh vực đầu tư ưu tiên cũng như các biện pháp giảm thiểu tác động cho hộ nghèo và doanh nghiệp dễ bị tổn thương.Cải cách chính sách tài khóa nhiên liệu hóa thạch cũng đem lại tác động tích cực đối với sức khỏe của người dân đồng thời phát thải khí nhà kính gây ra biến đổi khí hậu cũng sẽ giảm.
 
Thực tế, tiêu dùng than, khí và xăng dầu đang gia tăng sẽ biến Việt Nam trở thành nước nhập khẩu thuần về nhiên liệu hóa thạch trong tương lai gần. Việt Nam đang chịu tác động ngày càng lớn từ giá nhiên liệu hóa thạch thế giới, đòi hỏi cần chuyển dịch tài khóa ngày càng nhiều cho các DNNN hoặc cho người tiêu dùng nếu giá nội địa vẫn thấp. Điều này là cần thiết để hạn chế các sức ép tài khóa. Ngoài ra, việc giảm tốc độ gia tăng sử dụng năng lượng nội địa thông qua tăng cường hiệu quả năng lượng cùng với việc mở rộng năng lượng tái tạo sẽ làm giảm sự phụ thuộc vào thị trường năng lượng thế giới.
 
Tăng giá độc quyền rất nguy hiểm
 
Cải cách chính sách tài khóa nhiên liệu hóa thạch đòi hỏi phải làm nhiều việc hơn là chỉ có tăng giá. Tự do hóa giá năng lượng trong điều kiện độc quyền và thiếu những quy định pháp lý mạnh và độc lập chỉ làm gia tăng tình trạng hiệu suất năng lượng thấp và vẫn không tháo gỡ được những rào cản chính đối với việc thu hút thêm đầu tư nước ngoài và từ khu vực tư nhân trong nước vào ngành năng lượng.
 
Nghiên cứu cho thấy sự hồ nghi của công chúng đối với lý do của tăng giá xuất phát từ sự thiếu minh bạch và nhận thức về sự thiếu hiệu quả của các DNNN trong ngành năng lượng.
 
“Cải cách chính sách tài khóa nhiên liệu hóa thạch đòi hỏi phải cải cách tổng thể ngành năng lượng, bao gồm tăng cường năng lực cạnh tranh trong các thị trường năng lượng, nâng cao hiệu suất của các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực năng lượng và áp dụng mức giá minh bạch và theo định hướng giá thị trường,” tiến sĩ Mehta nói. “Cần có các biện pháp để bảo vệ người nghèo và dễ bị tổn thương cũng như các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nhiều nhất từ những tác động ngắn hạn của việc tăng giá năng lượng”.
 
Theo ý kiến của bà Phạm Chi Lan, cần đặt DNNN ngành năng lượng vào kỷ cương thị trường, nếu vẫn để DNNN độc quyền, chi phối thị trường thì sẽ không có cơ cấu thị trường, từ đó, "giá thị trường" chỉ là điều không tưởng. Thực tế, Việt Nam chưa có cơ chế thị trường đầy đủ, do đó, tăng giá cho độc quyền thì rất nguy hiểm.
 
Với ngành điện, cần tăng cường cạnh tranh trên thị trường điện, khẩn trương đưa vào cạnh tranh trên thị trường bán buôn và bán lẻ, thúc đẩy hơn nữa thị trường phát diện cạnh tranh. Đặc biệt, cần cải thiện hiệu quả hoạt động chức năng của EVN, trong đó có tính minh bạch của cơ chế định giá và áp giá điện theo hướng phản ánh đủ chi phí và có thể tiên liệu, có như vậy mới đảm bảo tính hấp dẫn với các nhà đầu tư vào lĩnh vực điện.
 
Trong ngắn hạn, để giảm thiểu các tác động tới người nghèo, Chính phủ đổi mới hỗ trợ trực tiếp bằng tiền mặt cho người nghèo nhưng cần tăng cường hơn nữa và đưa vào khuôn khổ bảo trợ xã hội rộng lớn hơn. Tương tự như vậy, các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần được hỗ trợ để chuyển đổi sang sản suất năng lượng hiệu suất cao hơn và các cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp hiện nay cần được đẩy mạnh vì mục đích này. Tuy nhiên, hỗ trợ cho DNNVV cần chọn lọc nhưng chỉ có được khi Việt Nam cải cách quyết liệt, đưa nền kinh tế theo hướng thị trường, nếu không DNNVV vẫn bị phân biệt đối xử, đặc biệt là với DNNN độc quyền.
 
(T.Hương)