Ưu đãi thuế tạo cơ hội cho công nghệ cao, năng lượng phát triển

Trong 20 năm qua, Việt Nam đã nỗ lực chuyển mình và đạt được nhiều những thành tựu kinh tế đáng ghi nhận. Tuy nhiên, đến thời điểm hiện tại, những điều kiện thuận lợi để phát triển đã không còn được như trước đây. Chúng ta đã không còn nhiều lợi thế về nguồn lao động giá rẻ, vì giờ giá lao động cũng đã tăng lên theo từng ngày. Chúng ta cũng không còn lợi thế về nguồn tài nguyên, vì tài nguyên dùng mãi thì cũng cạn kiệt.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Thêm vào đó, những tác động về biến đổi khí hậu, nước biển dâng đang đòi hỏi phát triển những công nghệ thân thiện với môi trường; giảm tối đa phế thải độc hại và tăng cường khả năng tái chế; đầu tư công nghệ mới, sử dụng năng lượng hợp lý… Vì vậy, việc sửa đổi Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đã hướng tới hỗ trợ đầu tư mạnh mẽ trong hai lĩnh vực này, để đối phó với tình trạng suy thoái môi trường đang diễn ra ngày càng phức tạp.

Sẽ có công nghệ cao thương hiệu Việt Nam

Việt Nam đã có một số chính sách đầu tư và hỗ trợ tài chính đối với các doanh nghiệp (DN) hoạt động nghiên cứu, phát triển, tìm kiếm, chuyển giao, ứng dụng công nghệ cao; đào tạo nhân lực công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ công nghệ cao; phát triển công nghiệp công nghệ cao, trong hệ thống pháp luật bao gồm Luật Doanh nghiệp; Luật Bảo vệ môi trường; Luật Sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả… Đặc biệt, Luật công nghệ cao ban hành năm 2008 cũng quy định về việc ưu đãi thuế TNDN ở mức tối đa đối với DN sản xuất sản phẩm công nghệ cao, cung ứng dịch vụ công nghệ cao, có hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ cao.

Trong Luật thuế TNDN cũng có quy định này, nhưng hiện vẫn còn một số hạn chế khiến Luật chưa thực sự đi vào cuộc sống. Lấy ví dụ như tại điều 13 và điều 14 của Luật hiện hành có quy định: DN thành lập mới từ dự án đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao được ưu đãi thuế với mức lãi suất 10% trong thời hạn 15 năm, được miễn thuế tối đa 4 năm được giảm thuế 50% tối đa trong 9 năm tiếp theo và đối với những dự án đặc biệt quan trọng với quy mô lớn có công nghệ cao có tác động lan tỏa đến kinh tế liên vùng liên khu vực thì có thể áp dụng được mức thuế suất 10% trong thời hạn dài hơn tối đa đến 30 năm. Đây được coi là một mức ưu đãi khá tốt cho các DN.

Thực tế, để được cấp giấy chứng nhận DN thành lập mới từ dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghệ cao cần phải được Bộ Khoa học và Công nghệ xét duyệt với một số yêu cầu tiêu chuẩn nhất định quy định tại Khoản 1 Điều 18 Luật Công nghệ cao như: Sản xuất sản phẩm công nghệ cao thuộc Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển quy định tại Điều 6 Luật Công nghệ cao; Tổng chi bình quân của doanh nghiệp trong 3 năm liền cho hoạt động nghiên cứu và phát triển được thực hiện tại Việt Nam phải đạt ít nhất 1% tổng doanh thu hằng năm, từ năm thứ tư trở đi phải đạt trên 1% tổng doanh thu; Doanh thu bình quân của DN trong 3 năm liền từ sản phẩm công nghệ cao phải đạt ít nhất 60% trong tổng doanh thu hằng năm, từ năm thứ tư trở đi phải đạt 70% trở lên; Số lao động của DN có trình độ chuyên môn từ đại học trở lên trực tiếp thực hiện nghiên cứu và phát triển phải đạt ít nhất 5% tổng số lao động; Áp dụng các biện pháp thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng trong sản xuất và quản lý chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam; trường hợp chưa có tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam thì áp dụng tiêu chuẩn của tổ chức quốc tế chuyên ngành.

Tuy nhiên, quy định là như vậy, song hầu như không có một DN nào mới ra đời mà có ngay công nghệ cao, ngoại trừ một số nhà đầu tư nước ngoài. Thực tiễn cho thấy DN phải hoạt động một thời gian và phải có nguồn lực, thì người ta mới tìm đến công nghệ và trong số công nghệ đó người ta mới tìm được công nghệ cao thích hợp. Vì thế, việc chỉ có quy định ưu đãi đối với DN thành lập mới, không có quy định ưu đãi thuế cho DN đang hoạt động... trong Luật thuế TNDN hiện hành chưa đi vào cuộc sống.

Do đó, Bộ Tài chính đã đề xuất bổ sung thêm lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn ưu đãi (ngoài các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi theo Luật Thuế TNDN hiện hành). Theo đó, DN bất kể đầu tư mới hay DN đang hoạt động, nhưng có dự án đầu tư vào công nghệ cao thì thu nhập có được từ dự án đó sẽ được áp dụng quy định mức ưu đãi thuế ở mức cao nhất. Nếu làm được như vậy thì Luật thuế TNDN và Luật công nghệ cao hoàn toàn tương thích và đồng bộ và sẽ không chỉ có những cái tên “Tây” ở Việt Nam như: Samsung, Intel, Nokia, GE, Fuji Xerox… Sắp tới, có thể sẽ có nhiều hơn các nhà đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao mang thương hiệu Việt Nam xuất hiện.

Tạo động lực cho DN đầu tư vào lĩnh vực năng lượng

Năng lượng đang trở thành mối quan tâm toàn cầu tới các quốc gia trên thế giới khi mà nguồn nguyên liệu đang dần bị hóa thạch và dần trở nên cạn kiệt. Nếu không có nguồn năng lượng thay thế, nguy cơ loài người lâm vào tình trạng khủng hoảng năng lượng trầm trọng tất yếu sẽ xảy ra trong vài thập niên tới. Việt Nam cũng đang đối mặt với một loạt các vấn đề năng lượng khó giải quyết.

Hiện nay, Việt Nam đang khai thác được trung bình khoảng 22 triệu tấn than/năm. Tuy nhiên, năm 2020, khi trở thành nước công nghiệp, Việt Nam sẽ phải nhập 40 triệu tấn than/năm cho hàng loạt nhà máy nhiệt điện ra đời. Vậy chúng ta sẽ phải chi trả bao nhiêu tiền cho số tấn than đó? Một giải pháp khác được đưa ra là khai thác mỏ than ở Đồng bằng sông Hồng với trữ lượng 200 tỷ tấn. Tuy nhiên, với độ sâu 4.000 m, nhiệt độ 1.500, chúng ta sẽ phải chi trả bao nhiêu tiền để đầu tư vào công nghệ máy móc khai thác và kể cả có khai thác được thì đến đời con cháu chúng ta sẽ tìm kiếm một mỏ than lớn nữa ở đâu ra?

Hoặc như dự báo của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cho thấy, cả nước cần có sản lượng điện 201 tỷ kWh, đến năm 2030 nhu cầu về điện sẽ lên tới 327 tỷ kWh. Trong khi đó, khả năng huy động sản xuất năng lượng nội địa tối đa cũng chỉ được 165 tỷ kWh và 208 tỷ kWh. Như vậy, đến năm 2020 Việt Nam có thể thiếu 36 tỷ kWh và đến năm 2030 thiếu 119 tỷ kWh... Những con số sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới và Việt Nam có thể sẽ phải nhập khẩu điện với giá cả đắt đỏ. Điều này sẽ trực tiếp ảnh hưởng tới nền kinh tế trong nước, đời sống người dân sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng...

Vì thế, việc đầu tư phát triển năng lượng tái tạo đang là giải pháp đầy triển vọng cho tương lai. Nhận thức được tầm quan trọng, lợi thế và lợi ích của các nguồn năng lượng tái tạo trước nguy cơ khủng hoảng năng lượng ngày càng cao, Chính phủ Việt Nam vẫn luôn khuyến khích và hỗ trợ các dự án năng lượng tái tạo. Ngành Điện là một trong những ngành năng lượng được đánh giá là tiềm năng của nước ta trong lĩnh vực năng lượng mới và tái tạo đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, đặc biệt là thủy điện nhỏ và cực nhỏ. Theo đó, tỷ lệ các nguồn năng lượng mới và tái tạo sẽ được tăng tỷ lệ lên khoảng 3% tổng năng lượng thương mại sơ cấp vào năm 2010, khoảng 5% vào năm 2020 và 11% vào năm 2050.

Việc phát triển các dự án năng lượng tái tạo dù thông qua hình thức đầu tư tư nhân, trong nước hay nước ngoài thì Việt Nam cũng đánh giá cao và hiện đang hướng tới hoàn thiệu khung thể chế và pháp lý nhằm đảm bảo cho các doanh nghiệp, nhà đầu tư có đầy đủ điều kiện kinh tế, tài chính cần thiết cũng như có sự an toàn cao về pháp lý, đồng thời ổn định trong một thời gian dài do mức đầu tư ban đầu tương đối lớn.

Kế thừa những quy định trước đây, trong dự thảo Luật Thuế TNDN sẽ quy định cụ thể hơn, rõ hơn về vấn đề này. Theo đó, DN có đầu tư thành lập cơ sở kinh doanh mới, thành lập các dự án có sử dụng năng lượng sạch, năng lượng gió, năng lượng địa nhiệt, năng lượng từ nước biển, mà có thể thay thế cho các nguồn năng lượng đang cạn kiệt dần như dầu mỏ như than đá... thì thu nhập có được của các DN cũng sẽ được ưu đãi thuế cao. Đồng thời, cho phép các DN thực hiện chế độ khấu hao nhanh trong việc thu hồi vốn đầu tư.

Theo đánh giá, quy định mới này rất có lợi, cho phép nhà quản lý “đi bằng hai chân”, vừa cho phép DN thu hồi vốn nhanh thông qua con đường khấu hao vừa cho phép DN nhận được ưu đãi về thuế. Điều đó tạo động lực mạnh mẽ cho DN đầu tư vào lĩnh vực mới này khi đất nước đang thiếu nguồn tài chính để đầu tư cho ngành này.

Khảo sát cho thấy, cũng giống như các nước APEC khác, 40% nhu cầu tiêu thụ năng lượng tại Việt Nam từ ngành công nghiệp chủ đạo, 28% từ khu vực giao thông, khu vực sinh hoạt hộ gia đình sẽ tiêu thụ từ 28 - 40% còn lại. Như vậy, vấn đề ý thức sử dụng năng lượng của yếu tố con người là rất quan trọng. Quốc hội Việt Nam có ban hành về sử dụng tiết kiệm năng lượng thì trong quy định của Luật Thuế TNDN sẽ thực hiện hỗ trợ cho người tiêu dùng cũng như cho DN tham gia vào chương trình tiết kiệm năng lượng hoặc sử dụng năng lượng sạch. Đây là nội dung mà các nhà quản lý đang suy nghĩ để khuyến khích người dân thay thế công nghệ cũ và sử dụng công nghệ mới với năng lượng tốt hơn, sạch hơn, tiết kiệm hơn. Hiện trong dự thảo cũng đã quy định ưu đãi thuế với việc đầu tư mở rộng trong trường hợp DN đổi mới công nghệ và trong việc đổi mới công nghiệp đó có cả việc đổi mới công nghệ sử dụng năng lượng sạch hơn tiết kiệm hơn...

(Thu Hằng)