VEPR: Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2016 - 2020 khó vượt mức 6%

Các dự báo đều cho thấy trong giai đoạn 2016 - 2020, mức tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm của Việt Nam khó có khả năng vượt mức 6% do động lực tăng trưởng không có nhiều cải thiện.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Với kết quả kinh tế vĩ mô không thực hiện được so với kế hoạch, nhiều chỉ tiêu khác cũng lần lượt không đạt kế hoạch. Cơ cấu nền kinh tế dịch chuyển chậm hơn (tỉ trọng công nghiệp không đạt kế hoạch, tỉ lệ lao động trong khu vực nông lâm nghiệp không giảm đúng như kế hoạch). Thâm hụt ngân sách cũng không được cải thiện, mà còn trở nên trầm trọng hơn so với kế hoạch. Vốn đầu tư toàn xã hội đã không thực hiện được như kế hoạch. Tuy nhiên, theo chúng tôi bản thân giá trị của chỉ tiêu này trong kế hoạch là một mục tiêu sai lầm, vì nó thể hiện chúng ta chưa có sự thay đổi tư duy về mô hình tăng trưởng kinh tế, quá chú trọng duy trì tăng trưởng kinh tế dựa trên mở rộng đầu tư như trong giai đoạn 5 năm trước đó (2006 - 2010).

Về cán cân thương mại, trong năm 2014 có thể vẫn duy trì quán tính thặng dư từ hai năm 2012 và 2013, nhưng vẫn luôn duy trì khuynh hướng chuyển sang thâm hụt. Chỉ tiêu GDP bình quân đầu người tính theo USD đã vượt kế hoạch đề ra, nhưng nguyên nhân đến chủ yếu từ sự thay đổi tỉ giá danh nghĩa giữa VND và USD. Vì thế, không thể coi đây là một thành tựu. Vì vậy, NHNN có khuynh hướng chỉ can thiệp mua vào đối với lượng ngoại tệ thặng dư trên cán cân thanh toán nhằm ngăn chặn sự tăng giá của tiền Việt.

Các tính toán đều cho thấy, có thể thấy nếu nền kinh tế không nhận được động lực tăng trưởng mới từ sự cải thiện yếu tố năng suất lao động tổng hợp, trong khi đó các nguồn lực cơ bản là vốn và lao động không có nhiều khả năng cải thiện đột  biến, dẫn đến nhiều khả năng tăng trưởng khó thoát khỏi khuynh hướng suy giảm dài hạn.

Kinh tế vẫn trên xu hướng suy giảm

Mặc dù một số  dấu hiệu tích cực đã xuất hiện trong  sản xuất từ cuối năm 2013 đến nửa đầu năm 2014, và dự kiến sẽ tiếp tục diễn biến tích cực hơn, nhưng tăng trưởng kinh tế vẫn nằm trên xu hướng suy giảm dài hạn. Cho tới nay tăng trưởng vẫn dựa trên các yếu tố lao động và vốn, nên quyết tâm cải cách mạnh mẽ tổng thể nền kinh tế có ý nghĩa quyết định trong việc tái tạo khuynh hướng tăng trưởng cao. Việc cải cách sẽ mang lại những cải thiện chủ yếu trong hiệu quả sử dụng vốn (giảm chỉ số ICOR), tăng kỹ năng trong lao động, và đặc biệt là cải thiện nhân tố năng suất tổng hợp (TFP) thông qua sự chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, ứng dụng khoa học công nghệ và mở rộng hợp tác quốc tế theo hướng đa dạng hóa và tăng cao chất lượng các mặt hàng xuất khẩu, nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Trên thực tế, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của nền kinh tế Việt Nam. Về điều kiện khách quan, bao gồm các hoàn cảnh khác nhau của môi trường quốc tế (nền kinh tế thế giới và khu vực) có thuận lợi cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam hay không (thông qua sức cầu về hàng xuất khẩu của Việt Nam, mức giá trên thế giới, tiềm năng của các dòng vốn đầu tư nước ngoài, điều kiện thuận lợi trong các hoạt động thương mại và liên kết quốc tế). Về điều kiện chủ quan, phụ thuộc vào chính sách chủ động trong nước, cam kết cải cách nền kinh tế theo hướng tăng hiệu quả và chất lượng tăng trưởng, điều kiện thay đổi về cấu trúc kinh tế, chất lượng nguồn lực, đặc biệt là chất lượng lao động và đầu tư công, chính sách huy động nguồn lực từ bên ngoài (thay đổi nợ nước ngoài), khả năng cải cách thể chế và hành chính, phát triển khoa học công nghệ để tăng năng suất...

Trong giai đoạn 2016 - 2020,  VEPR đưa ra ba kịch bản. Trong đó, theo kịch bản tăng trưởng thấp, tốc độ tăng trưởng của các yếu tố đầu vào cụ thể sẽ là: TFP - 2,0%/năm; Lao động - 0,88%/năm; Vốn đầu tư toàn xã hội (giá hiện hành): 11,5%/năm, tăng trưởng thực (giá cố định, đã loại bỏ lạm phát): 5,5%, (tương đương tỉ lệ vốn đầu tư trên GDP khoảng 30,5 - 31% GDP, giữ ổn định như hiện nay); Chỉ số ICOR toàn nền kinh tế duy trì ở mức cao như hiện nay  (không có cải thiện), khoảng 5,6 - 5,7; Tỷ lệ tiết kiệm nội địa (tiết kiệm/GDP) bình quân 30,35%; Vốn FDI tăng trưởng 0 - 3%/năm; Vốn vay của khu vực tư nhân tăng 5%/năm; lạm phát 6%/năm; Tăng trưởng tín dụng bình quân: 11,3 - 15,7 %/năm.

Với Kịch bản tăng trưởng vừa phải, TFP được đưa ra là 2,4%/năm; Vốn đầu tư toàn xã hội (giá hiện hành): 11%/năm, tăng trưởng thực (giá cố định) 6%; Chỉ số ICOR toàn nền kinh tế được cải thiện nhờ chặt chẽ hơn trong đầu tư công, tỉ lệ trung bình khoảng 5,4; Tỉ lệ tiết kiệm nội địa (tiết kiệm/GDP) bình quân: 30,35%; Vốn FDI tăng trưởng 4 - 6%/năm; Vốn vay của khu vực tư nhân tăng 10%/năm; Lạm phát 5%/năm; Tăng trưởng tín dụng bình quân: 13,3 - 18,7 %/năm.

Ở Kịch bản tăng trưởng cao, vốn đầu tư toàn xã hội (giá hiện hành) 12,5%/năm, tăng trưởng thực (giá cố định): 6,5% (tương đương tỉ lệ vốn đầu tư trên GDP khoảng 31 - 32% GDP, tăng nhẹ so với hiện nay); Lạm phát 6%/năm; Tăng trưởng tín dụng bình quân 16,3 - 21,7 %/năm.

Việc duy trì tốc độ tăng trưởng cao phụ thuộc nhiều vào quan hệ vay nợ nước ngoài, do đó, nỗ lực cải thiện tốc độ tăng trưởng kinh tế (trên 6%) có thể sẽ đi liền với tỷ lệ nợ nước ngoài tăng lên. Để cải thiện tốc độ tăng trưởng và chất lượng của nền kinh tế, chắc chắn cần phải có quyết tâm cải cách thực sự mạnh mẽ quyết liệt nhằm tăng  năng suất của toàn bộ nền kinh tế, tái cơ cấu nguồn lực theo hướng chất lương cao hơn. Cải cách thể chế kinh tế, hành chính có ý nghĩa quyết định. Ngoài ra, việc cải thiện nguồn nhân lực cho nền kinh tế và mở rộng thị trường xuất khẩu với mô hình liên kết  quốc tế theo kiểu mới.

"Chỉ với những nỗ lực cải cách với cam kết cao, Việt Nam mới có hy vọng kiểm soát được mức tăng trưởng khoảng trên 6% (trong điều kiện bối cảnh quốc tế thuận lợi). Việc đặt mục tiêu tăng trưởng bình quân 7% trong giai đoạn 2016 - 2020 hầu như không khả thi. Nói cách khác, giai đoạn tăng trưởng cao như trong thập niên 1990 và đầu những năm 2000 (bình quân 7,5%/năm) sẽ không còn cơ hội lặp lại trong thời gian tới" - Nhóm nghiên cứu VEPR khẳng định.

(T.Hương)