Việc cung cấp thông tin liên quan đến đất đai đã được cải thiện nhưng chưa đủ

Cùng với những thành tựu về kinh tế, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc khai thông các dòng chảy thông tin. Mặc dù vậy, người dân và doanh nghiệp vẫn tiếp tục cho rằng còn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin mình cần, và những vấn đề như tham nhũng, sử dụng sai và lãng phí nguồn lực vẫn tiếp tục kìm hãm sự phát triển của Việt Nam.

Ảnh minh họa.Ảnh minh họa.

Cùng với những thành tựu về kinh tế, Việt Nam đã đạt được những tiến bộ đáng kể trong việc khai thông các dòng chảy thông tin trong vài thập kỷ qua. Internet đã thâm nhập nhanh chóng. Người dân được tiếp cận tin tức trong nước và toàn cầu nhiều hơn bất kỳ lúc nào trước đó. Việc minh bạch quy trình ra quyết định của nhà nước cũng được rộng mở. Từ việc công khai thông tin ngân sách và tài khóa, tới các dự thảo luật, hay truyền hình trực tiếp các phiên họp Quốc hội, không còn nghi ngờ gì, Việt Nam ngày nay minh bạch hơn nhiều so với vài thập kỷ trước đây. Điều này cũng đúng trong quản lý đất đai, với nhiều thay đổi luật pháp thành công từng bước đã mở rộng phạm vi thông tin được công bố là “thông tin công khai”.

Mặc dù vậy, người dân và doanh nghiệp vẫn tiếp tục cho rằng còn gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm thông tin mình cần, và những vấn đề như tham nhũng, sử dụng sai và lãng phí nguồn lực vẫn tiếp tục kìm hãm sự phát triển của Việt Nam. Trong lĩnh vực quản lý đất đai, các khảo sát về nhận thức của người dân và doanh nghiệp đều cho thấy tình trạng thực thi không đầy đủ các quy định về minh bạch thông tin đất đai vẫn đang tồn tại. Nhiều chuyên gia đã chỉ rõ Việt Nam cần tăng cường thật mạnh mẽ tính minh bạch trong giai đoạn tiếp theo tập trung vào hiện đại hóa thể chế.

Nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới được thực hiện cuối năm 2013 và đầu năm 2014, cho phép xác định xem việc thực hiện các quy định công khai thông tin đất đai qua thời gian có sự cải thiện hay không. Câu trả lời là đã có sự cải thiện ở nhiều khía cạnh khác nhau trong việc công khai thông tin liên quan đến đất đai ở Việt Nam. Ở cấp tỉnh, việc cung cấp thông tin liên quan đến đất đai qua mạng đã được cải thiện. Điều này đặc biệt đúng với thông tin về quy hoạch sử dụng đất, được luật quy định là thông tin công khai. Một số tỉnh còn đi xa hơn các yêu cầu của luật pháp khi công bố trên mạng cả các thông tin liên quan đến bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, thông tin về giao đất, và việc công khai hai thông tin này đều có sự cải thiện từ năm 2010 tới năm 2013. So với ba năm trước, các huyện cũng đã công khai bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất tại trụ sở nhiều hơn. Các tài liệu liên quan đến quá trình ra quyết định, như dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, cũng như biên bản các cuộc họp thảo luận cũng được cung cấp nhiều hơn so với trước đây, mặc dù vẫn còn khá ít huyện làm được. Ở cấp xã, sự cải thiện chủ yếu tập trung vào các tài liệu và bản đồ liên quan đến quy hoạch sử dụng đất và danh sách các hộ gia đình đủ điều kiện được cấp Giấy Chứng nhận Quyền Sử dụng đất.

Còn xa mới đảm bảo quyền tiếp cận đầy đủ thông tin

Mặc dù những cải thiện này là rất ấn tượng, các dữ liệu từ Nghiên cứu Công khai Thông tin Đất đai cũng cho thấy rõ rằng cung cấp thông tin liên quan đến đất đai trên thực tế vẫn còn thấp hơn so với yêu cầu của pháp luật, và còn xa mới bảo đảm được việc tiếp cận đầy đủ thông tin. Thực tế, nếu cứ ba năm việc cung cấp thông tin được cải thiện từ 10-15% thì sẽ phải mất nhiều thập kỷ các cơ quan hành chính của Việt Nam mới tiệm cận với việc tuân thủ đầy đủ các quy định khá khiêm tốn về minh bạch theo luật pháp hiện hành. Trong bối cảnh Việt Nam mong muốn phát triển các thể chế hiện đại cần có ở một nước có thu nhập trung bình, việc đẩy nhanh tiến trình này là một yêu cầu cấp thiết.

Ở nhiều tỉnh, huyện và xã nơi các nghiên cứu viên thực hiện khảo sát, các công chức thường đơn giản là từ chối cung cấp thông tin. Nêu lý do “thông tin mật,” hay cần phải có đồng ý của Chủ tịch UBND, hoặc cần có công văn giải thích lý do cần thông tin, hay thậm chí là cần gặp riêng tại quán cà phê, nhiều công chức đã hoàn toàn không thực hiện nghĩa vụ phải cung cấp thông tin. Điều này cho thấy rõ ràng công chức vẫn chưa hiểu rằng cung cấp thông tin là một nghĩa vụ của công chức theo luật định, và công dân, dù không có thư giới thiệu, vẫn có quyền tiếp cận thông tin.

Vấn đề năng lực cũng thể hiện khá rõ ràng, đặc biệt là ở cấp xã. Lý do phổ biến nhất cho việc không thu thập được thông tin là công chức chịu trách nhiệm không có mặt ở công sở hay đang nghỉ phép. Bất kể xã đó có thông tin hay không, người dân đến công sở sẽ rất bực bội khi công sở đóng cửa trong giờ làm việc hay công chức chịu trách nhiệm không có mặt. Đó là thực tế mà nhiều người dân đang phải đối mặt. Trong các trường hợp khác, công chức không thể tìm thấy thông tin, điều này phản ánh một phát hiện từ một nghiên cứu trước đó cho thấy việc lưu giữ hồ sơ không tốt cũng góp phần vào tình trạng thiếu minh bạch.

Số liệu từ nghiên cứu công khai thông tin về đất đai có thể dùng để phân tích những yếu tố nào gắn với công khai, minh bạch và tại sao minh bạch lại tạo ra sự khác biệt. Số liệu nghiên cứu cho thấy những tỉnh, thành phố phát triển hơn thường cung cấp thông tin trên mạng tốt hơn và do đó tiếp cận thông tin tại chỗ lại khó hơn. Những địa phương nào có mức độ đói nghèo cao hơn thì tiếp cận thông tin ở cấp xã kém hơn. Quan trọng hơn cả, một số các đánh giá về tham nhũng ở cấp tỉnh có tương quan ngược với mức độ minh bạch thông tin về đất đai.

Chuỗi Báo cáo Phát triển Việt Nam (VDR). Tiếp cận thông tin là một chủ đề luôn được nhắc tới trong nhiều năm qua trong các báo cáo chung của các nhà tài trợ do Ngân hàng Thế giới chủ trì. VDR 2010 - Các thể chế hiện đại phân tích kết quả khảo sát 9.600 người dân trên toàn quốc về việc người dân thấy dễ hay khó tìm các hướng dẫn thông tin về nhiều dịch vụ khác nhau. Một trong những đánh giá kém nhất chính là với thông tin về Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất và thông tin liên quan đến Quyền sở hữu nhà ở. Không phải tình cờ mà đây cũng là những dịch vụ mà người dân gặp nhiều khó khăn nhất. Báo cáo Phát triển Việt Nam này viện dẫn tới một một khảo sát với các doanh nghiệp nổi tiếng nhất trên toàn quốc, khảo sát Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) để chỉ ra rằng mặc dù tình hình này đã được cải thiện hơn nhưng tỷ lệ các công ty cho rằng họ cần phải có quan hệ với các quan chức địa phương để lấy được thông tin vẫn còn cao.

VDR 2012 - Kinh tế thị trường khi Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập trung bình cho rằng tự do tiếp cận thông tin là điều kiện tiên quyết của một nền kinh tế thị trường có hiệu quả và kết luận rằng “cải thiện minh bạch là một trong những ‘trái quả dễ hái nhất trong giai đoạn chuyển đổi’ mà Việt Nam còn chưa thu hoạch hết”.

Các nước trên thế giới đã áp dụng cách tiếp cận mạnh hơn, luật tiếp cận thông tin cho phép người dân có quyềnvới thông tin, dựa trên nguyên tắc mọi thứ đều phải được công khai trừ những gì nằm trong danh mục “loại trừ”. Luật này cũng đưa ra các thủ tục giám sát, thực thi khiếu nại, tất cả những thủ tục này vẫn còn chưa được thể hiện rõ trong các quy định pháp luật của Việt Nam về tiếp cận thông tin. Ý tưởng ban hành một luật tiếp cận thông tin không phải là mới, đã được thảo luận ít nhất là trong sáu năm vừa qua, và Luật Tiếp cận Thông tin hiện đang nằm trong chương trình xây dựng pháp luật của Quốc hội khóa đương nhiệm. Chúng ta sẽ phải chờ xem liệu văn hóa công khai và minh bạch có được ươm mầm và tiếp tục được nuôi dưỡng thông qua việc thể chế hóa quyền với thông tin hay không.

(T.Hương)