Việt Nam cần cải cách hơn nữa để có thể mạnh về cả thế và lực

Thực tế cho thấy việc tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng trở nên cần thiết và cấp bách, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế nước ta hiện nay đã bộc lộ không ít yếu kém nội tại.

Ảnh: TH.Ảnh: TH.

Chuyển đổi mô hình trở nên cấp thiết

Tại Hội thảo Khởi động Dự án Hỗ trợ tái cơ cấu kinh tế nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam diễn ra chiều ngày 11/8, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy Đông cho biết, cải cách kinh tế của Việt Nam trong gần 30 năm qua đã đạt được những thành tựu lớn trên nhiều mặt. Từ năm 2010, Việt Nam đã trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp theo xếp hạng của Ngân hàng thế giới. Cơ cấu kinh tế đã từng bước chuyển đổi tích cực theo hướng hiện đại; cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đã được cải thiện đáng kể cả về số lượng và chất lượng, các cân đối lớn của nền kinh tế nhìn chung vẫn được bảo đảm.

Tuy vậy, nền kinh tế nước ta hiện nay đã bộc lộ không ít yếu kém nội tại. Tăng trưởng GDP đang có xu hướng chậm lại, chất lượng tăng trưởng, hiệu quả cũng như năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Bên cạnh đó, quy mô các ngành kinh tế còn nhỏ và phân tán, sản xuất công nghiệp phần lớn còn ở dạng gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng nội địa thấp. Đáng chú ý, đa số các sản phẩm có đóng góp lớn trong GDP và kim ngạch xuất khẩu đều là sản phẩm nông nghiệp, thủy sản và khoáng sản. Trong khi đó, các sản phẩm công nghiệp sơ chế và dịch vụ phục vụ tiêu dùng lại thâm dụng nhiều lao động phổ thông. Ngược lại, số ngành, lĩnh vực có công nghệ tiên tiến, hiện đại còn ít, ngành công nghiệp phụ trợ chưa phát triển, còn mất cân đối lớn giữa các khâu trong chuỗi sản xuất và cung ứng.

Thực tế cho thấy việc tái cơ cấu kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng trở nên cần thiết và cấp bách. Theo đó, việc tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng cần thực hiện với lộ trình và bước đi phù hợp để đến năm 2020 cơ bản hình thành mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, bảo đảm chất lượng tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.

"Trong hai năm triển khai chủ trương tái cơ cấu kinh tế, Việt Nam đã đạt được một số kết quả bước đầu, tuy nhiên cũng gặp phải nhiều thách thức. Việt Nam rất cần sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế, các nhà tài trợ trong quá trình cải cách, đặc biệt trong việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế. Trong bối cảnh đó, Việt Nam nhận được sự hỗ trợ kịp thời và thiết thực của Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia (DFAT) thông qua Dự án Hỗ trợ tái cơ cấu nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam.” – Thứ trưởng Đặng Huy Đông khẳng định.

Chính phủ Australia gần đây vừa công bố chính sách viện trợ mới. Theo đó, sẽ cung cấp khoản hỗ trợ tài chính trị giá 3,1 triệu USD Úc bao gồm thỏa thuận tài trợ trực tiếp và hỗ trợ kỹ thuật. Chính phủ Việt Nam, thông qua các cơ quan thực hiện, sẽ cung cấp vốn đối ứng trị giá 135.000 USD Úc. Thời gian thực hiện giai đoạn đầu của dự án là từ 30/6/2014 - tháng 12/2016. Dự án sẽ tập trung vào viện trợ thương mại và phát triển khu vực tư nhân hướng tới nâng cao mức sống của nhóm đối tượng dễ bị tổn thương nhất trong khu vực. Dự án Hỗ trợ tái cơ cấu kinh tế nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam gắn liền với các ưu tiên chiế lực của Australia tại Việt Nam, bao gồm cả chủ thương ủng hộ của Australia đối với thương mại toàn cầu dựa trên các quy tắc, cải cách về chính sách cạnh tranh, cải cách doanh nghiệp nhà nước và phát triển khu vực tư nhân. Dự án sẽ hỗ trợ các cải cách pháp luật và quy định nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam, từ đó, sẽ giúp giảm chi phí tuân thủ của doanh nghiệp, thúc đẩy đầu tư nước ngoài, thức đẩy cạnh tranh và tăng năng suất trong các lĩnh vực bao gồm lĩnh vực nông nghiệp.

Về phía mình, ông Hugh Borrowman, Đại sứ Australia tại Việt Nam cho biết, Việt Nam đang tham gia vào các hiệp định kinh tế quốc tế và khu vực phức tạp, đòi hỏi phải có các cải cách mới hơn nữa. Australia sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam trong quá trình cải cách quan trọng này. Nếu những cải cách này được thực hiện, Việt Nam sẽ tiếp tục lớn mạnh cả về thế và lực. Rõ ràng, đây là kết quả tốt cho Việt Nam nhưng cũng đem lại lợi ích cho khu vực.

Rào cản đối với tăng trưởng năng suất

Theo đánh giá của ông Raymond Mallon, cố vấn cấp cao Dự án tái cơ cấu kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (RVC), bên cạnh những thành tựu đạt được, Việt Nam đang vấp phải không ít rào cản như có dấu hiệu về việc giảm tốc độ tăng trưởng sản phẩm, đầu tư, tiết kiệm và năng suất trong vòng 5-10 năm gần đây, thậm chí, Việt Nam vẫn tụt hậu so với các thành viên sáng lập ASEAN xét theo thu nhập bình quân đầu người...Ngoài ra, các nhóm lợi ích, bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, có thể sử dụng các quyền lực kinh tế ngày càng tăng để kiềm chế cạnh tranh bằng cách hạn chế sự gia nhập của các doanh nghiệp ít có sự liên quan hơn. Điều này có thể làm xói mòn tính cạnh tranh, sự tăng trưởng toàn diện, công bằng và ổn định.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy sự phát triển của các thể chế kinh tế và chính trị có thể đóng vai tò quan trọng trong thúc đẩy đầu tư nhằm đẩy mạnh sáng tạo và năng suất làm lợi cho nhân dân. Sự tăng trưởng trong quá khứ của Việt Nam là khá toàn diện, nhưng việc giám sát và cải cách thường xuyên là cần thiết nhằm đảm bảo sự tăng trưởng toàn diện. Điển hình như các cải cách luật đất đai nhìn chung khá toàn diện nhưng do các thị trường thay đổi, tham nhũng tăng lên... đòi hỏi cần nhiều cải cách nhằm tăng tính minh bạch và bảo đảm các quyền sử dụng đất.

Thực tế, sự tăng trưởng từ sớm về năng suất nông nghiệp đã mang lại cho Việt Nam những thành công ban đầu về giảm nghèo. Tuy nhiên, tỷ trọng giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp trong GDP đã giảm đáng kể trong những năm gần đây, trong khi lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ đã tăng trưởng với tốc độ nhanh hơn. Tăng trưởng năng suất lao động nông nghiệp đã bị chững lại bất kể việc chuyển đổi thành thị - nông thôn ngày càng tăng với số người lao động chuyển từ các ngành nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ. Hiện năng suất lao động nông nghiệp tại Hàn Quốc và Malaysia vẫn cao hơn Thái Lan, Indonesia và Việt Nam. Các mức năng suất nông nghiệp thấp góp phần vào việc tạo ra sự chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị, dẫn đến tình trạng như Thái Lan đã trải qua trong những năm vừa qua.

Chính vì thế, dự án RCV sẽ tập trung hỗ trợ nhận diện các rào cản đối với sự sáng tạo và tái cơ cấu lĩnh vực nông nghiệp. Tại sao Việt Nam thành công khi nổi lên như nước dẫn đầu về xuất khẩu các mặt hàng như cà phê, hạt điều, rau và cây ăn quả.. nhưng không thể làm tăng tổng năng suất lao động trong lĩnh vực nông nghiệp. Rõ ràng, nông dân Việt Nam có thể sáng tạo và cạnh tranh thành công trên thị trường thế giới nếu nhận được cơ hội. Với hầu hết người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp đều trồng lúa, Dự án RCV tập trung vào những nghiên cứu ban đầu trong lĩnh vực này. Thay bằng việc nghiên cứu các vấn đề về công nghệ, dự án RCV sẽ thực hiện phương pháp tiếp cận liên ngành nhằm hỗ trợ các nghiên cứu về chuỗi giá trị lúa gạo. Đồng thời, xây dựng mô hình và nâng cao nhận thức các tác động về mặt kinh tế và khía cạnh phân phối của các rào cản thể chế đối với việc tái cơ cấu nông nghiệp bao gồm các hạn chế đối với việc sử dụng đất trồng lúa nhằm các mục đích khác và vấn đề độc quyền thị trường của hai tổng công ty xuất khẩu gạo.

Với ba hợp phần do 3 Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương và Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn chủ trì thực hiện với một Quỹ linh hoạt để đáp ứng các yêu cầu hỗ trợ đối với các vấn đề ưu tiên cấp bách phát sinh trong quá trình triển khai, Dự án hướng tới hỗ trợ thực hiện các mục tiêu gồm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; thúc đẩy năng suất lao động, tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập; Nâng cao tính minh bạch trong các quy định kinh doanh và giảm tham nhũng.

(T.Hương)