Việt Nam cần cơ quan Giám sát tài chính thống nhất

Khủng hoảng tài chính toàn cầu đã mở ra một làn sóng cải cách, trong đó, tìm ra mô hình cũng như cách thức giám sát thị trường tài chính nhằm hạn chế những rủi ro cho thị trường cũng là vấn đề cần được quan tâm lúc này.

Cấu trúc giám sát tài chính nào phù hợp với Việt Nam?Cấu trúc giám sát tài chính nào phù hợp với Việt Nam?

Hệ thống giám sát tài chính còn lỏng lẻo

Tại Tọa đàm "Cấu trúc giám sát tài chính Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị chính sách", TS. Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy Ban Giám sát Tài chính quốc gia (NFSC) cho rằng: Kinh tế toàn cầu đã trải qua rất nhiều biến động và gánh chịu nhiều hậu quả mà nguyên nhân chính là do những bất ổn về tài chính gây ra, khiến nhiều nền kinh tế lâm vào khủng hoảng. Vấn đề đặt ra dưới góc độ quốc gia cho Chính phủ mỗi nước là nhận thức về vai trò quan trọng và cần đặt ra những nguyên tắc của hệ thống giám sát tài chính nhằm giảm thiểu rủi ro cũng như đảm bảo tính thanh khoản của thị trường. Còn với Việt Nam đang trong quá trình tái cấu trúc nền kinh tế nhằm mục tiêu tăng trưởng bền vững về dài hạn, trong đó, tái cấu trúc giám sát khu vực tài chính là một trọng tâm.

Chia sẻ về vấn đề này, ông Tống Quang Huy (NFSC) cho biết, nhiều nhân tố gây ra cuộc khủng hoảng đã hình thành và kéo dài trong thời gian tương đối dài như hành vi bất hợp lý; tiêu chuẩn bảo hiểm chưa có chất lượng; mô hình quản lý rủi ro còn thiếu hiệu quả; xu thế toàn cầu hóa ngày càng rõ rệt, các sản phẩm tài chính ngày càng đa dạng và phức tạp; không giải thích được hiện tượng chứng khoán hóa các khoản vay xảy ra đột ngột và dồn dập; việc sử dụng các hợp đồng hoán đổi tín dụng mặc định CDS từ năm 2004; năng lực quản lý, giám sát khu vực tài chính của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền các nước đã và đang không theo kịp với tốc độ bùng phát rồi trồi sụt của khu vực này,… Tuy nhiên nếu chỉ nhìn vào hiện tượng thì chưa lý giải được đầy đủ về nguyên nhân gây ra khủng hoảng. Thực tế thì hệ thống các nguyên tắc về giám sát tài chính lỏng lẻo là nguyên nhân quan trọng dẫn tới sự sụp đổ của hệ thống tài chính. 

Với bối cảnh đầy rẫy bất ổn trong tương lai, việc tăng cường quản lý rủi ro và đề ra các biện pháp khắc phục rủi ro trong hoạt động của hệ thống tài chính hơn lúc nào hết cần phải được đẩy mạnh thường xuyên nhằm thích ứng với môi trường mới. Và vì vậy vai trò của các cơ quan giám sát tài chính với vị trí là nhân tố cốt lõi của quá trình này trở nên rất quan trọng, kéo theo sự đổi mới của hệ thống giám sát tài chính quốc gia là một điều tất yếu để phục vụ mục tiêu phát triển ổn định lâu dài.

Thực tế ở Việt Nam, theo ông Phạm Quang Thái, Ban Giám sát tổng hợp (NFSC), rủi ro của thị trường tài chính Việt Nam đã vượt ngoài tầm kiểm soát mà nguyên nhân bắt nguồn từ chính sách vĩ mô với chính sách tiền tệ và tài khóa nới lỏng; Tăng trưởng tín dụng cao trong thời gian dài dẫn tới bong bóng tài sản (tài chính và BĐS); Số lượng ngân hàng và mạng lưới chi nhánh phát triển nhanh. Bên cạnh đó, hoạt động quản lý điều tiết về cho vay tín dụng còn chưa chặt chẽ, dễ bị lợi dụng; chưa có những giải pháp hữu hiệu, kịp thời nhằm ngăn chặn rủi ro cho vay tập trung; chưa phát hiện được các rủi ro mới phát sinh. Đặc biệt, trong hoạt động ngân hàng ngầm như hoạt động repo chứng khoán, giao dịch ký quỹ (margin) thực hiện bởi các công ty chứng khoán; Hợp đồng hợp tác kinh doanh; hoạt động mua bán nợ có truy đòi, các hoạt động mua bán khống trên OTC, các sản phẩm hoán đổi tín dụng; Ủy thác đầu tư cho bên thứ 3 đầu tư cổ phiếu OTC và TPDN; Tạm ứng, đặt cọc tiền môi giới mua cổ phiếu, trái phiếu…cơ quan giám sát vẫn chư phát hiện được các rủi ro phát sinh.

Để xảy ra tình trạng này, một phần rủi ro của thị trường tài chính Việt Nam còn bắt nguồn từ giám sát còn yếu kém, thiên về giám sát tuân thủ thay vì giám sát theo rủi ro, thiếu giám sát hữu hiệu các rủi ro chéo, đầu tư chéo giữa các thị trường tài chính, quan trọng hơn nữa là các cơ quan giám sát của Việt Nam thiếu độc lập trong hoạt động và ra quyết định trên nhiều phương diện.

Lựa chọn mô hình giám sát tài chính

Theo ông Huy, thực tế, khu vực dịch vụ tài chính của hầu hết mọi quốc gia đều bị ảnh hưởng bởi sự phát triển của thị trường, bao gồm sự đổi mới và tiến bộ nhanh chóng của khoa học công nghệ, cạnh tranh khốc liệt hơn trong xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa tài chính,… Kết quả là ranh giới của các thị trường tài chính, ranh giới giữa các loại hình tổ chức tài chính, các loại sản phẩm và kênh phân phối trong khu vực tài chính,.. bị mờ nhạt dần và trở nên phức tạp hơn với các mức độ và cách thức khác nhau giữa các quốc gia. Xu hướng liên kết tài chính cũng ngày càng mạnh mẽ với sự xuất hiện của tổ hợp tài chính và các tổ chức tài chính kinh doanh đa năng, theo đó hệ thống giám sát độc lập với nhiều cơ quan giám sát tỏ ra kém hiệu quả hơn. Nguy cơ của rủi ro hệ thống ngày càng tăng và hiện hữu với trào lưu toàn cầu hóa. Trong tình hình mới khi việc đánh giá mức độ rủi ro chéo tiềm ẩn  của các liên kết tài chính trở nên rất khó khăn nếu dựa trên các báo cáo của các cơ quan giám sát chuyên ngành độc lập.

Chính vì thế, yêu cầu cấp thiết hình thành cơ quan giám sát tài chính hợp nhất để giám sát dòng tiền luân chuyển giữa các thị trường tài chính gồm thị trường tiền tệ - ngân hàng, thị trường vốn, thị trường bảo hiểm…để sớm phát hiện, điều tiết, và xử lý các rủi ro chéo, sở hữu chéo.  Thêm nữa, cơ quan giám sát phải có tính độc lập với thị trường để đảm bảo việc giám sát không thiên vị và công bằng, trong đó, cơ quan hoạch định, ban hành chính sách cần tách rời cơ quan giám sát nhằm  ngăn ngừa rủi ro xung đột lợi ích trong điều kiện hiện nay của Việt Nam. Do đó, cơ quan ban hành chính sách không nên  thực hiện giám sát vi mô các định chế tài chính. – ông Phạm Quang Thái khuyến nghị.

Tuy nhiên, theo ông Daniel Zuberbuhler, cố vấn tài chính cấp cao, Tổ chức KPMG Thụy Sỹ, thực tế ở Việt Nam với một hệ thống cơ quan giám sát phân tán gồm Cơ quan Thanh tra, Giám sát ngân hàng và Bảo hiểm tiền gửi trực thuộc quản lý của Ngân hàng Nhà nước; Cục Quản lý, Giám sát bảo hiểm và Ủy ban Chứng khoán Nhà nước (Bộ Tài chính) và cuối cùng là NFSC…thì các cơ quan này phải có thẩm quyền pháp lý, cơ chế chia sẻ thông tin và cơ chế đưa ra quyết định nhanh chóng nhằm giảm sự rối rắm trong quản lý rủi ro của thị trường. Tuy vậy, trong số các cơ quan liệt kê ở trên, riêng chỉ có NFSC không thực sự là cơ quan giám sát vì không có thẩm quyền cưỡng chế thực thi. Song không vì nhẽ đó mà trong ngắn hạn, Việt Nam thay đổi mô hình giám sát tài chính một cách đột ngột bởi hiện Việt Nam đang cần xử lý những vấn đề cấp thiết hơn như xử lý nợ xấu, thực hiện triển khai Chiến lược phát triển ngành ngân hàng (BSS) và xây dựng một cơ chế giám sát thận trọng hiệu quả cho khu vực ngân hàng trong NHNN … Việc tái tổ chức một cách quyết liệt gây tốn kém khổng lồ về nguồn lực, mất mát về bí quyết, những bất ổn và lỗ hổng giám sát trong quá trình chuyển đổi.

Cũng theo ông Zuberbuhler, xu hướng phổ biến trên toàn cầu hiện nay là các cơ quan giám sát phải có tính độc lập trong vận hành cũng như nguồn lực ngân sách.  Trước mắt, Việt Nam chỉ nên khắc phục những yếu kém rõ ràng nhất bằng cách có thể nâng cấp Hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia thành Hội đồng Giám sát ổn định tài chính (FSOC), trong đó, chuyển NFSC thành cơ quan chính thức/ Ban Thư ký cho FSOC với chức năng pháp lý để tổng hợp, phân tích, chuẩn bị thông tin và gửi đề xuất quyết định tới FSOC cũng như giám sát thực thi các quyết định của FSOC.

Ngoài ra, với các cơ quan giám sát tài chính khác như Cục Quản lý, giám sát bảo hiểm, Chính phủ nên trao cho Cục mức độ độc lập như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước; Trao UBCK quyền thanh tra và tiếp cận trực tiếp tới thông tin ngân hàng, thông tin giữa ngân hàng và khách hàng cũng như quyền trao đổi thông tin với các cơ quan giám sát nước ngoài; nâng cao mức phạt và các công cụ về tiền (ví dụ, thu hồi lợi nhuận bất hợp pháp). Với Bảo hiểm tiền gửi, nên áp dụng chế độ đặc biệt về xử lý nợ xấu và phá sản cho các ngân hàng (trung hạn); áp dụng phí bảo hiểm dựa trên rủi ro để giảm rủi ro đạo đức và tăng quỹ bảo hiểm tiền gửi; chuẩn bị cho việc từ bỏ biện pháp tạm thời “không để phá sản” của NHNN.

“Còn về lâu dài, việc thay đổi cơ chế giám sát tài chính liên quan trực tiếp đến phương án độc lập hóa của Ngân hàng Nhà nước. Nếu NHNN chưa thể độc lập về thể chế thì giám sát an toàn vi mô của các ngân hàng nên được chuyển sang cơ quan khác, cụ thể, Cơ quan Thanh tra, Giám sát Ngân hàng và Bảo hiểm tiền gửi nên được chuyển sang hoạt động dưới sự quản lý của cơ quan giám sát tài chính hợp nhất.” - Ông Zuberbuhler khuyến cáo.

(T.Hương)