Việt Nam cần khởi tạo động lực tăng trưởng mới

Đã đến lúc Việt Nam khởi tạo động lực tăng trưởng mới nhằm nâng cao giá trị bên trong để tiếp tục tăng trưởng nhanh, bền vững và vượt qua bẫy thu nhập trung bình.

Việt Nam cần khởi tạo động lực tăng trưởng mới

Tạo giá trị bên trong để tiếp tục tăng trưởng nhanh

Tại Hội thảo "Khởi tạo động lực tăng trưởng mới: Tăng cường liên kết doanh nghiệp FDI - Nội địa" diễn ra hôm nay, ngày 26/3, GS. TS Trần Thọ Đạt, Phó Hiệu trưởng ĐH Kinh tế Quốc dân cho biết: Tăng trưởng Việt Nam có được sau quá trình đổi mới chủ yếu là do đóng góp của các nhân tố theo chiều rộng gồm lao động giá rẻ, vốn và tài nguyên. Tuy nhiên, sau suy giảm kinh tế 2009, dường như dư địa cho tăng trưởng theo chiều rộng đã không còn. Nền kinh tế vẫn chưa thoát khỏi chu kỳ tăng trưởng chậm. Do đó, Việt Nam cần khởi tạo động lực tăng trưởng mới nhằm nâng cao giá trị bên trong để tiếp tục tăng trưởng nhanh, bền vững và vượt qua bẫy thu nhập trung bình.

"Thực tế cho thấy tăng trưởng của Việt Nam trước kia và hiện nay dường như chưa có chất lượng. Sau vài năm đạt được thu nhập trung bình thấp, bẫy thu nhập trung bình không còn là một nguy cơ xa xôi mà đã trở thành hiện hữu cho Việt Nam. Bằng chứng là tăng trưởng của Việt Nam đang chậm lại, năng suất sản xuất mờ nhạt, thiếu hụt của chuyện dịch cơ cấu theo đúng nghĩa, khả năng cạnh tranh trong bảng xếp hạng không có dấu hiệu tăng và xuất hiện các vấn đề do tăng trưởng gây ra. Đây không chỉ là những triệu chứng của riêng Việt Nam mà còn là vấn đề của nhiều quốc gia láng giềng đã từng mắc phải." - GS Kenichi Ohno, Viện Nghiên cứu Chính sách quốc gia Nhật Bản (GRIPS)

Sau khủng hoảng tài chính cuối năm 2008, cục diện kinh tế thế giới bị suy giảm nặng nề, hầu hết các dự án FDI được đăng ký trước đó đều bị rút vốn hoặc chậm tiến độ. Các hoạt động thu hút FDI trong giai đoạn 2009 - 2013 bị chậm lại. So với các nước trong khu vực, chất lượng của dòng vốn FDI thấp hơn khá nhiều, các liên kết của doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp nội địa còn khá yếu, chưa đa dạng, do đó, hạn chế tác động lan tỏa của FDI đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua. Vấn đề đặt ra đối với Việt Nam hiện nay là nâng cao chất lượng dòng vốn FDI và tăng cường các mối liên kết FDI - doanh nghiệp nội địa nhằm tạo ra giá trị nội tại để thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững. Có như vậy, Việt Nam mới có thể rút ngắn được khoảng cách tụt hậu sao với các nước và tránh được bẫy thu nhập trung bình mà nhiều quốc gia Mỹ La Tinh hay Đông Nam Á đã gặp phải.

Trong bối cảnh hiện nay, khi dòng vốn FDI đã và đang được xem là sức sống mới cho các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt với các quốc gia có thu nhập trung bình thấp như Việt Nam, chúng ta đang phải đổi mặt với tình trạng cạnh tranh ngày một gay gắt hơn trong thu hút FDI. Lào, Campuchia, Myanmar... đang nổi lên là những đối thủ cạnh tranh mới của Việt Nam. Dưới con mắt của các nhà đầu tư quốc tế, đang có nhiều cảnh báo cho Việt Nam từ sự tiến bộ của những đối thủ này. Năm 2013, có 54% doanh nghiệp FDI trước khi chọn Việt Nam, đã từng cân nhắc đầu tư vào các nước khác mà chủ yếu là Trung Quốc, Lào, Campuchia, Myanmar... Trong khi đó, con số này của năm 2011 và 2012 chỉ là 32%. Việt Nam hiện không còn là điểm đến ưu ái nhất với các nhà đầu tư quốc tế như giai đoạn 2007 - 2010, mà hiện giờ đang phải cạnh tranh với các đối thủ truyền thống trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Indonesia và một số nước mới nổi.

Việt Nam có nhiều điểm yếu so với các nền kinh tế là đối thủ như chi phí không chính thức cao, thủ tục hành chính còn rườm rà, quy định pháp luật còn chưa đầy đủ, minh bạch, chất lượng dịch vụ công và chất lượng cơ sở hạ tầng chưa thực sự hỗ trợ kinh doanh. Thậm chí, các nhà đầu tư xếp hạng cơ sở hạ tầng của Việt Nam chỉ ngang bằng với Campuchia và Lào, song tham nhũng và gánh nặng quy định pháp luật còn bị đánh giá thấp hơn hai quốc gia láng giềng này.

Tăng cường liên kết DN nội địa - tập đoàn đa quốc gia

Theo TS Dương Đình Giám, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công nghiệp Bộ Công thương: Tăng trưởng mà Việt Nam có được một phần do tự do hóa thương mại, tự do hóa vốn và sức mua của các nước dành cho Việt Nam. Hơn lúc nào hết, với quá trình chuyển đổi một cách có hệ thống và sự hội nhập toàn cầu ngày càng trở nên sâu sắc, Việt Nam cần tạo ra giá trị bên trong để tiếp tục tăng trưởng nhanh và tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Muốn vậy, Việt Nam phải được hỗ trợ bởi một chiến lược phát triển công nghiệp khả thi, tăng cường tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu để nâng cao giá trị nội tại - hiện đang rất thấp..

"Việc tập trung nỗ lực hợp tác giữa chính phủ, khu vực tư nhân để tạo ra giá trị nội địa được thực hiện bằng việc tận dụng lợi thế quy mô lớn trong sản xuất của khu vực FDI mà Việt Nam đã thực sự đạt được. Việt Nam cần có chiến lược FDI marketing, xây dựng năng lực các doanh nghiệp trong nước, liên kết giữa các doanh nghiệp FDI - nội địa, dịch vụ hậu cần hiệu quả và nguồn nhân lực công nghiệp." - GS Kenichi Ohno chia sẻ.

Liên quan đến vấn đề tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp nội địa, PGS.TS Nguyễn Ngọc Sơn, Đại học Kinh tế Quốc dân cho rằng: Tăng cường liên kết các doanh nghiệp nội địa với tập đoàn đa quốc gia là một trong những hướng đi đúng đắn để đạt được mục tiêu tăng giá trị bên trong để tiếp tục tăng trưởng nhanh và tránh rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Việc chuyển đổi mô hình tăng trưởng cần dựa vào hiệu quả huy động các nguồn lực nhằm tăng khả năng cạnh tranh công nghiệp, nâng cao trình độ công nghệ và tăng năng suất lao động. Cần chuyển sang mô hình công nghiệp hóa phát huy lợi thế so sánh động, dựa trên các lợi thế so sánh bậc cao gồm: lao động chất lượng cao, nguyên liệu tinh chế, công nghệ hiện đại và sức mua cao… Có thể nói, tăng cường liên kết các doanh nghiệp nội địa với tập đoàn đa quốc gia là một trong những hướng đi đúng đắn để đạt được mục tiêu này.

Việt Nam có thể tham khảo 5 hình thức liên kết và tác động lan tỏa của doanh nghiệp FDI-MNC với các doanh nghiệp nội địa. Thứ nhất, đó là liên kết ngược với các nhà cung cấp thông qua thuê ngoài (outsoursing). Thứ hai là liên kết xuôi với khách hàng, trong đó, mối liên kết quan trọng nhất là kết nối mạng lưới phân phối. Các Tập đoàn đa quốc gia chính là khách hàng và mở ra thị trường rộng lớn các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN). Thứ ba là liên kết với đối thủ cạnh tranh, vì cạnh tranh là động lực cho sự đổi mới và học hỏi về công nghệ. Hai hình thức cuối cùng là liên kết với đối tác công nghệ và các tác động lan tỏa khác...

(T.Hương)